Mang theo đất nước giữa Paris
Paris đầu những năm hai mươi mang không khí nhiều biến động của châu Âu hậu thế chiến. Cùng những cuộc tranh luận về vận mệnh các dân tộc, trong căn phòng thuê chật hẹp nơi khu lao động, người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã liên tục viết báo, tham luận và kiến nghị gửi tới các diễn đàn quốc tế. Người viết cho báo chí Pháp, cho những diễn đàn của các dân tộc bị áp bức – nơi đang tìm tiếng nói giữa một thời đại mà nhiều quyết định quan trọng vẫn nằm trong tay các cường quốc. Nhưng xuyên suốt những trang viết ấy vẫn là hình ảnh quê hương và đời sống nhân dân Đông Dương dưới ách thuộc địa.
Tập 1 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2011) tái hiện khá rõ hoạt động cách mạng của Người giai đoạn 1912 – 1924. Sau những trang báo viết nơi đất khách là một xứ Đông Dương nghèo khó dưới ách cai trị thực dân. Người nông dân quanh năm oằn mình dưới sưu thuế. Người phu bị đưa đi lao dịch ở những miền đất xa lạ. Nhiều người lính thuộc địa bị đưa sang phục vụ trong các cuộc chiến tranh của thực dân rồi nằm xuống nơi đất khách.
Có những bài báo được viết tại Paris nhưng nội dung lại hướng nhiều về Đông Dương. Từ quyền học hành, quyền hội họp, quyền tự do báo chí cho đến đời sống bị bủa vây bởi đói nghèo và áp bức. Những vấn đề của đời sống thực tế được đặt lên trang viết theo cách giản dị nhưng đủ để người đọc nhận ra bản chất của xã hội thuộc địa. Có bài viết nhắc đến cảnh nhà tù được chú trọng hơn trường học dưới chế độ thực dân. Có đoạn chỉ ra những hệ lụy xã hội do chính sách cai trị gây ra, khi rượu cồn và thuốc phiện len sâu vào đời sống thuộc địa dưới chế độ thực dân.
Đọc sâu hơn những trang viết đầu thế kỷ XX còn có thể nhận ra nhiều nghịch lý của xã hội thuộc địa. Người dân bản xứ phải đóng đủ thứ thuế nhưng gần như không có quyền quyết định vận mệnh của chính mình. Những người lao động làm việc cực nhọc trong hầm mỏ, đồn điền hay bến cảng nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh nghèo khó. Có nơi người dân bị lấy mất ruộng đất bởi sự áp đặt của bộ máy cai trị. Có người làm việc nhiều tháng trời nhưng chỉ nhận lại đồng công ít ỏi.
Trong một bài viết về Mađagátxca, Người nhắc đến loại “thẻ căn cước” áp dụng đối với dân bản xứ dưới chế độ thuộc địa. Chỉ từ vài dòng nhận xét của giới chủ hoặc chính quyền, một người dân có thể bị quy thành “du đãng”, bị phạt tù hoặc đày đi biệt xứ nhiều năm. Qua những dẫn chứng cụ thể ấy, Người cho thấy thực trạng bất công và sự áp đặt nặng nề mà người dân thuộc địa phải chịu đựng dưới danh nghĩa “khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân.
Trong nhiều bài viết, Người không chỉ nói về Việt Nam như một trường hợp riêng lẻ. Đi qua nhiều quốc gia và tiếp xúc với nhiều phong trào khác nhau, Người dần nhìn rõ hơn thân phận chung của các dân tộc thuộc địa thời kỳ ấy. Dù ở châu Phi hay châu Á vẫn có thể bắt gặp những cảnh đời quen thuộc: người dân mất quyền tự quyết, lao động cực nhọc nhưng sống trong đói nghèo, còn tài nguyên và sức lực của mình lại phục vụ cho sự giàu có của chính quốc.
Chính từ thực tiễn ấy, nhận thức của Người về con đường cứu nước cũng dần thay đổi. Ban đầu, Người tìm kiếm ở những khẩu hiệu “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà phương Tây thường nhắc tới một lời giải cho dân tộc mình. Nhưng càng đi nhiều, chứng kiến nhiều và đọc nhiều hơn, Người dần nhận ra những giới hạn của các khẩu hiệu ấy trong thực tế của xã hội thuộc địa.
Bước chuyển lớn đến khi Người tiếp cận Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Từ đây, vấn đề giải phóng dân tộc không còn chỉ là khát vọng yêu nước đơn thuần mà từng bước gắn với một nhận thức chính trị rõ ràng hơn về thời đại và lực lượng cách mạng. Người nhận ra rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam không tách rời cuộc đấu tranh chung của những dân tộc bị áp bức và của giai cấp lao động trên thế giới. Từ một người yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, Người từng bước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin như một sự lựa chọn từ thực tiễn dân tộc và trải nghiệm của chính mình.
Trong các bài viết giai đoạn này, dù phê phán gay gắt chủ nghĩa thực dân, Người vẫn luôn dành sự chú ý tới nhân dân lao động Pháp và những lực lượng tiến bộ ở châu Âu. Người phân biệt khá rõ giữa nhân dân với chủ nghĩa thực dân; giữa những người lao động bình thường với bộ máy áp bức thuộc địa. Chính cách nhìn ấy cũng góp phần hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người từ khá sớm.
Những năm tháng hoạt động nơi đất khách cũng là thời gian Người cùng một số nhà hoạt động cách mạng từ các nước thuộc địa khác tham gia sáng lập tờ báo Le Paria – tờ báo dành cho các dân tộc bị áp bức. Trong bối cảnh thông tin tại thuộc địa còn bị kiểm soát chặt chẽ, những số báo in tại Paris đã trở thành một diễn đàn công khai phản ánh đời sống của người dân Đông Dương và nhiều xứ sở thuộc địa khác. Từ Paris, những trang báo ấy góp phần đưa vấn đề thuộc địa đến với dư luận tiến bộ tại Pháp và châu Âu.
Một bài viết nhắc đến cảnh người dân thuộc địa bị đưa sang Marseille làm những công việc nặng nhọc với đồng công rẻ mạt rồi bị nhìn bằng ánh mắt khinh miệt ngay trên đất Pháp. Chỉ vài dòng ngắn nhưng cũng gợi ra thân phận của những con người rời quê hương trong hoàn cảnh chưa thể làm chủ vận mệnh của mình.
Trong Tập 1 còn có Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây năm 1919. Bản yêu sách chỉ gồm những điều hết sức căn bản: quyền được học hành, tự do báo chí, tự do hội họp và quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Giữa hội nghị của các cường quốc thắng trận, tiếng nói ấy vẫn bình tĩnh và đĩnh đạc như một lời khẳng định về quyền sống và quyền tự quyết của một dân tộc chưa bao giờ chấp nhận cam chịu kiếp nô lệ.
Điều đáng chú ý là ngay từ giai đoạn đầu ấy, trong suy nghĩ của Người, vấn đề độc lập dân tộc luôn gắn rất gần với đời sống của nhân dân lao động. Độc lập không chỉ để thay đổi một bộ máy cai trị, mà còn để người dân được học hành, có cơm ăn áo mặc, được sống trong một xã hội công bằng hơn. Vì vậy, câu chuyện giải phóng dân tộc trong các trang viết đầu thế kỷ XX luôn gắn rất gần với số phận cụ thể của người dân bình thường.
Điều dễ nhận ra qua các trang viết của Người là lời văn luôn hướng về con người. Dù viết tại Paris hay gửi tiếng nói về Đông Dương, Người vẫn lựa chọn cách diễn đạt giản dị để đông đảo người lao động có thể tiếp cận và thấu hiểu. Chính sự gần gũi ấy khiến những vấn đề chính trị lớn của thời đại không còn xa lạ mà gắn trực tiếp với cuộc sống và số phận của con người.
Ở Người trong giai đoạn này cũng đã bắt đầu hình thành khá rõ tư duy kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong khi nhiều phong trào yêu nước trước đó chủ yếu tìm đường cứu nước trong phạm vi quốc gia, Người sớm nhận ra rằng một dân tộc thuộc địa muốn giành độc lập cần đặt cuộc đấu tranh của mình trong dòng chảy lớn của phong trào cách mạng thế giới. Nhưng đồng thời, Người cũng luôn nhấn mạnh tinh thần tự lực của dân tộc mình – rằng không dân tộc nào có thể được giải phóng nếu chính nhân dân của dân tộc ấy không tự đứng lên giành lấy tự do cho mình.
Dù hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau, suy nghĩ của Người vẫn luôn hướng về tình cảnh của nhân dân Việt Nam. Ở thời đại mà tiếng nói của các dân tộc thuộc địa dễ bị lãng quên, bằng bản lĩnh và lòng tự trọng dân tộc, Người đã góp phần đưa tiếng nói của nhân dân Việt Nam đến với dư luận tiến bộ trên thế giới, để nhiều người biết đến khát vọng tự do và độc lập của dân tộc Việt Nam.
Khép lại Hồ Chí Minh Toàn tập – Tập 1 (1912 – 1924), đọng lại không chỉ là hành trình vạn dặm của một người thanh niên yêu nước, mà còn là quá trình hình thành từng bước những nhận thức nền tảng về con đường cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Từ thực tiễn của nhân dân thuộc địa, từ phong trào công nhân quốc tế và từ việc tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã từng bước xác định con đường giải phóng dân tộc gắn với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lựa chọn có ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình lịch sử Việt Nam về sau.
Sau nhiều biến động của lịch sử, những điều được viết từ hơn một thế kỷ trước vẫn khiến người đọc hôm nay suy nghĩ về giá trị của độc lập dân tộc, về mối quan hệ giữa đất nước với nhân dân, cũng như trách nhiệm gìn giữ thành quả hòa bình và phát triển mà nhiều thế hệ đã phải đánh đổi bằng hy sinh và mất mát.
Càng đọc lại những trang viết từ buổi đầu ấy càng thấy hành trình tìm đường cứu nước của Người chưa bao giờ bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Tất cả bắt đầu từ nỗi day dứt trước cuộc sống của đồng bào mình; từ sự trăn trở dành cho người dân mất đất, người lao động bị áp bức và những người lính thuộc địa phải nằm xuống nơi đất khách. Chính tình yêu dành cho nhân dân và khát vọng giành lại quyền làm chủ cho dân tộc đã theo Người suốt những năm tháng hoạt động nơi xứ người.
Hơn một thế kỷ đã đi qua, Paris của những năm tháng ấy giờ đã ở rất xa – xa qua những đổi thay của lịch sử, xa cả một thời đại đã lùi vào quá khứ. Nhưng càng đọc lại những trang viết đầu tiên của Người càng thấy Người vẫn ở rất gần. Gần trong nỗi lo cho đồng bào mình, gần trong khát vọng độc lập cho dân tộc và gần trong tình yêu dành cho đất nước chưa bao giờ vơi cạn. Có lẽ chính vì vậy mà hành trình “mang theo đất nước giữa Paris” đến hôm nay vẫn còn để lại nhiều xúc động, suy ngẫm trong ký ức của các thế hệ người Việt Nam.
