I.1-Truyền thuyết.

    Theo “Từ điển tiếng Việt” của nhà xuất bản (NXB) Khoa học xã hội, in lần thứ 2 năm 1977 do Văn Tân chủ biên, có chỉnh lý và bổ sung, (gọi tắt là Từ điển tiếng Việt năm 1977) thì truyền thuyết là “Chuyện cổ do dân gian truyền lại cho nhau, thường có tô điểm thêm và có khi thêm cả màu sắc thần thoại: Chuyện bánh dày bánh chưng là một truyền thuyết lâu đời”. [49, tr.812].     

          Theo “Từ điển tiếng Việt” do Phòng Từ điển-Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên, NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1988 (gọi tắt là Từ điển tiếng Việt năm 1988) và tái bản lần thứ 2 năm 1992 có sửa chữa bổ sung (gọi tắt là Từ điển tiếng Việt năm 1992) thì truyền thuyết là “Truyện dân gian truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang nhiều yếu tố thần kỳ. Truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc. Truyền thuyết về Thánh Gióng”. [51, tr.1034].

          Theo “Từ điển tiếng Việt” của ban Biên soan chuyên từ điển NEW ERA, NXB Văn hoá-Thông tin xuất bản năm 2005, (gọi tắt là Từ điển tiếng Việt năm 2005), thì truyền thuyết là “Lời nói hay câu chuyện được dân gian truyền từ đời này qua đời khác từ lâu. Chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh là một truyền thuyết đã có từ lâu đời”. [52, tr.2011].

          “Từ điển Văn học”, tập 2, NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1984, định nghĩa, truyền thuyết là “Một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích, vì trong hệ thống hình tượng truyền thuyết phần hư cấu nghệ thuật chủ yếu dựa vào những mẫu đề và hình tượng của thần thoại và truyện cổ tích thần kỳ...Đặc điểm chủ yếu phân biệt truyền thuyết với các thể loại thần thoại và truyện cổ tích là trong truyền thuyết bao giờ cũng giữ lại được những nét chính yếu của những sự kiện và con người có thực, làm thành cái cốt lõi hiện thực lịch sử-cụ thể cho trí tưởng tượng nghệ thuật của nhân dân”. [53, tr.449].

            “Từ điển bách khoa Việt Nam”, tập 4, NXB Từ điển bách khoa, năm 2005, định nghĩa, truyền thuyết là “Chuyện dân gian truyền miệng, cũng giống như thần thoại và truyện cổ tích, nhưng khác ở chỗ, truyền thuyết dựa vào những nhân vật có thật, những sự việc có thật, và mang nhiều yếu tố thần kỳ, do người xưa tưởng tượng ra”. [46, tr.6341].

          Trong “Tổng tập Văn học dân gian người Việt”, Tập 4 “Truyền thuyết dân gian người Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2004 (gọi tắt là Truyền thuyết dân gian người Việt năm 2004), nói về truyền thuyết như sau: “Dựa trên những điều có thật trong lịch sử, người dân tô điểm thêm những tình tiết có tính huyền thoại như các nhân vật là quỷ thần, yêu quái...làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn và dễ lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại bằng văn tự, nó là một thể loại của văn học truyền miệng”. [44, tr.22].

          Còn theo Phan Trần (tức Phan Kế Hoành và Trần Quốc Vượng) trong bài báo “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” trong tạp chí Văn học, số 3, 1967, thì “Truyền thuyết là những sáng tác dân gian, những câu chuyện dân gian có dựa trên cơ sở những sự kiện lịch sử nào đó”. [44, tr.24]

          Như vậy, truyền thuyết là một khái niệm chỉ một nhóm những sáng tác dân gian, có đặc điểm chung là trong đó có các yếu tố kỳ diệu, huyễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử.

 Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của truyền thuyết như sau:

- chuyện dân gian truyền miệng.

-Về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử.

-Thường mang nhiều yếu tố thần kỳ.

Có nghĩa là chúng được sáng tạo ra, lưu giữ và truyền lại cho thế hệ sau trong quần chúng nhân dân bằng truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân; thường có liên quan đến những sự kiện trong lịch sử, nhưng không phải là chính sử, không được ghi chép trong chính sử; các nhân vật hay sự kiện mang nhiều yếu tố thần kỳ, hư ảo.