II.3-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở  thế kỷ XX

 Sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng phong trào Duy Tân (còn gọi là cuộc vận động “xin xâu”) bắt đầu nổ ra từ Quảng Nam vào tháng 3-1908, ở Phú Yên dưới sự lãnh đạo của các ông Nguyễn Hữu Dực và Lê Hanh, phong trào chống sưu cao thuế nặng, chống cường hào áp bức, chống đồi phong bại tục, cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy chữ quốc ngữ... bùng lên phát triển mạnh mẽ.

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào chống Pháp với quy mô lớn có nhiều tộc người tham gia đã bùng lên ở một số tỉnh trên vùng núi Trường Sơn, mà Phú Yên là trung tâm với tên gọi là “Phong trào Săm Brăm” (hay còn gọi là phong trào “Xu đỏ”, phong trào “lấy nước phép đánh Tây”). Săm Brăm là người dân tộc Chăm ở Sơn Hòa, sớm được giác ngộ và được phong trào cổ vũ thôi thúc nên đã đứng ra khởi xướng phong trào đấu tranh chống Pháp trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Năm 1936, trước sự lớn mạnh nhanh chóng của phong trào, thực dân Pháp đã đưa quân đến bắt ông Săm Brăm về giam ở đồn Trà Kê, rồi đày lên Buôn Ma Thuột, Sông Cầu và cuối cùng đưa ra tận nhà lao Thanh Hóa.

Tháng 6-1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Phú Yên chính thức ra đời tại Sông Cầu do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Bí thư chi bộ, đến đầu  năm 1929 thì giải tán vì các đảng viên được điều động đến các địa bàn khác. Mùa hè năm 1929, đồng chí Hoàng Hữu Đàn là liên lạc của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Trung kỳ đến Phú Yên móc nối xây dựng lại cơ sở dưới hình thức hợp pháp là các Hưng nghiệp hội xã. Đến cuối năm 1929 phong trào lại bị đàn áp tan rã. Từ năm 1927 tổ chức Tân Việt đầu tiên ở Phú Yên đã được thầy giáo Phạm Đức Bân thành lập ở Sông Cầu với nhiều hình thức tập hợp lực lượng và đấu tranh phong phú, như rải truyền dơn, treo cờ, kêu gọi đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.

Cuối năm 1929, đồng chí Phan Lưu Thanh là thành viên trong tổ chức Hưng nghiệp Hội xã ở La Hai vào Sài Gòn học lái xe ô tô đã được các đảng viên cộng sản ở xưởng đóng tàu Ba Son tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Qua những hoạt động và thử thách ngay trên quê hương Phú Yên, tháng 8-1930, Phan Lưu Thanh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại chi bộ Thị Nghè (Sài Gòn) rồi được cử về La Hai (Phú Yên) hoạt động. Sau một thời gian tuyên truyền, tập hợp lực lượng, ngày 5-10-1930, tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân, đồng chí Phan Lưu Thanh đã tổ chức hội nghị đảng viên, tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Phú Yên. Sau đó nhiều chi bộ khác cũng được thành lập tại Đồng Xuân và Tuy An. Sau một thời gian hoạt động và phát triển các cơ sở Đảng, số lượng đảng viên và chi bộ đảng tăng lên đáng kể, cần phải có một tổ chức lãnh đạo chung. Trước tình hình đó, tháng 01-1931, các đồng chí đảng viên tổ chức Hội nghị và quyết định thành lập Tỉnh ủy lâm thời; đồng chí Phan Lưu Thanh được cử giữ chức Bí thư. Đến tháng 7-1931, do có người khai báo, bọn địch đã bất ngờ tập kích và truy bắt các đồng chí đảng viên, mở tòa án xét xử, kết án đưa các đảng viên đi đày. Phong trào tan rã. Đến tháng 6-1936 sau một thời gian bị phân tán, Hội nghị thành lập Tỉnh ủy Phú Yên được tiến hành tại làng Phước Hậu xã Bình Kiến. Hội nghị đã bầu đồng chí Trần Hào làm Bí thư. Thời kỳ này, Tỉnh ủy chia làm 2 bộ phận để hoạt động: Bộ phận bí mật và bộ phận công khai.

Giữa tháng 5-1945 trước tình hình Nhật đảo chính Pháp, Đảng ủy nhà lao Ban Mê Thuột đã phân công một số đảng viên về Phú Yên để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với 2 nhiệm vụ: Thành lập Tỉnh ủy và triển khai công tác tổng khởi nghĩa. Giữa tháng 6-1945 Tỉnh ủy lâm thời Phú Yên được thành lập do đồng chí Trương Kiểm làm Bí thư. Đến ngày 17-7-1945 Đại hội Mặt trận Việt Minh được tổ chức tại làng Phước Hậu, xã Bình Kiến, Tuy Hòa. Sau đó trong những ngày cuối tháng tám nhiều cuộc biểu tình vũ trang thị uy có hàng ngàn quần chúng tham gia đã được các tổ chức Đảng tổ chức công khai ở La Hai, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa, Đồng Bò...Tối ngày 23-8-1945, Tỉnh ủy họp phiên bất thường và quyết định: Tỉnh, huyện, phủ khởi nghĩa cùng thời điểm là nửa đêm ngày 24-8-1945. Sáng ngày 25-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân-phong kiến, thành lập chính quyền Cách mạng và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Cách mạng. Sáng 26-8-1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Phú Yên chính thức ra mắt quần chúng tại tỉnh lỵ Sông Cầu, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Chủ tịch, đồng chí Trương Kiểm làm Phó chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi.

Từ năm 1945 đến năm 1954, sau khi giành được chính quyền, Đảng ta chủ trương vừa tập trung xây dựng và củng cố chính quyền, đồng thời vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu bùng nổ trên toàn quốc, thì ngày 13-01-1947 hai trung đoàn Pháp từ Khánh Hòa cùng một lúc tấn công trận địa của Phú Yên tại đèo Cả và phía tây đèo Cả. Những ngày tiếp theo chúng tập trung quân đánh ra Hòa Hiệp, Phú Lâm, Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Thịnh, Hòa Mỹ, nhưng đã bị quân và dân Phú Yên chặn đánh quyết liệt. Ngày 19-1-1947, tiểu đoàn Ba Dương của Nam Bộ đang củng cố tại Phú Yên phối hợp với một bộ phận của trung đoàn 80 và dân quân tập kích địch tại Phú Lâm, giết chết tên Quan tư chỉ huy và hàng trăm binh lính Pháp. Tháng 6-1947, địch từ Khánh Hoà mở cuộc càn quét lớn nhằm giải toả thế bao vây đồn núi Hiềm và mở rộng vùng chiếm đóng, nhưng bị ta chặn đánh, phải bỏ âm mưu chiếm đóng khu I.

Trước tình hình mới, tháng 6-1947, cơ quan Tỉnh đội Phú Yên được thành lập. Lực lượng vũ trang của huyện, xã cũng được hình thành để làm nhiệm vụ chiến đấu. Tháng 1-1948, hai tiểu đoàn lính Pháp từ Cheo Reo tiến công xuống Phú Yên nhằm chiếm Củng Sơn và và miền tây Đồng Xuân, nhưng đã bị trung đoàn 79, trung đoàn 83 và quân dân Phú Yên chặn đánh, buộc địch phải rút chạy khỏi Củng Sơn về cố thủ tại Cà Lúi. Tháng 8-1949, địch dùng máy bay yểm trợ từ M’ Drack (Đăk Lăk) và Cheo Reo (Gia Lai) mở cuộc hành quân xuống sông Ba-Trường Lạc nhằm phá đập Đồng Cam. Nhưng chúng đã bị các trung đoàn 80, 83 và 84 phối hợp chặn đánh, tiêu diệt 100 tên, làm bị thương 100 tên khác, bảo vệ được đập Đồng Cam. Ngày 27-4-1950, Đại hội Đảng bộ tỉnh khai mạc, đề ra nhiệm vụ gấp rút chuẩn bị phản công và chuyển mạnh sang tổng phẩn công.

Trước những thất bại to lớn trên khắp các chiến trường, tháng 3-1953 chính phủ Pháp cử Đại tướng Navarre sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Sau khi nghiên cứu tình hình trên các chiến trường, Navarre trình lên Hội đồng Quốc phòng Pháp một kế hoạch quân sự lớn nhằm xoay chuyển tình thế và kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng. Chiến dịch Atlante là một bộ phận quan trọng của kế hoạch này. Chỉ trong vòng 2 tháng, từ ngày 20-01-1954 khi địch bắt đầu mở chiến dịch cho đến cuối tháng 3-1954 quân và dân Phú Yên đã ngoan cường chiến đấu, giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn phía tây huyện Đồng Xuân, làm chủ đường số 7 ở Sơn Hòa, tập kích vào hàng loạt cứ điểm quan trọng, tiêu diệt hàng trăm tên địch, phá hủy hàng chục xe máy, đánh bại chiến dịch Atlante của địch, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.

 Sau Hiệp định Giơnevơ, ngoài lực lượng quân đội, công an và cán bộ dân chính đảng được đưa đi tập kết, tỉnh Phú Yên còn chủ động bố trí, tổ chức lực lượng cách mạng ở lại bám trụ, kịp thời lãnh đạo nhân dân chống lại sự khủng bố và đàn áp của địch, mà đẫm máu nhất là vụ tàn sát dã man đồng bào tại Ngân Sơn-Chí Thạnh. Sau khi quán triệt Nghị quyết 15, phong trào cách mạng của tỉnh Phú Yên có nhiều chuyển biến tích cực. Ta đã tổ chức được nhiều vụ diệt ác phá kềm, phát động quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

Đêm ngày 22-12-1960, sau khi Nguyễn Chánh Thi làm đảo chính Ngô Đình Diệm, Tỉnh ủy đã phát động quần chúng ở Hòa Thịnh nổi dậy đồng khởi, xóa bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, mở đầu cho phong trào giải phóng các tỉnh đồng bằng khu V.

Giữa năm 1960, thực hiện chỉ thị của Khu ủy khu V về việc giải thoát và đưa luật sư Nguyễn Hữu Thọ ra vùng căn cứ, sau đợt tấn công vào quận lỵ Sơn Hòa để giải thoát luật sư không thành, tối ngày 30-10-1961 Tỉnh ủy Phú Yên đã tổ chức chỉ đạo đưa luật sư ra vùng giải phóng theo hướng chân núi Chóp Chài thành công.

Từ khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời 20-12-1960, bộ máy cai trị và hệ thống kềm kẹp của chính quyền ngụy ngày càng lung lay. Mỹ-Ngụy phải đưa ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm hà hơi tiếp sức cho chính quyền ngụy. Ở Phú Yên, để mở đầu cho chiến lược này, địch đã mở chiến dịch Hải Yến, nhưng chỉ trong năm 1964, quân và dân Phú Yên đã làm tan rã gần một chục tiểu đoàn, hàng chục đại đội, tiêu diệt hơn 2 ngàn và làm bị thương 4 ngàn tên địch, thu hàng trăm súng các loại, phá hàng chục ấp chiến lược, giải phóng 47/69 xã.

Bắt đầu từ giữa năm 1964, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức xây dựng bến bãi, hành lang vận chuyển tại Vũng Rô để đón tàu chở vũ khí chi viện từ miền Bắc vào.

Bị thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”, nhưng càng dấn sâu vào cuộc chiến tranh chúng lại càng sa lầy. Ở Phú Yên, các đơn vị vũ trang đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào các đơn vị của quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, như trận tiêu diệt Lữ đoàn dù 173 của Mỹ ở Gò Thì Thùng, các trận đánh quân Nam Triều Tiên ở An Định và An Nghiệp. Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Mùa xuân 1968, cùng với các địa phương khác trong toàn miền Nam, vào lúc 0 giờ ngày 30-01-1968 quân và dân Phú Yên đã nhất tề đồng loạt nổ súng tấn công vào các cứ điểm quan trọng của địch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời trong dịp này đã đưa 500 thanh niên ra căn cứ tham gia lực lượng cách mạng.

Sau khi “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại nặng nề, Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris, nhưng chúng vẫn ngoan cố thay chiến lược “chiến tranh cục bộ” bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu là dùng người Việt đánh người Việt. Tháng 10-1969 sau khi tiếp thu Nghị quyết Khu ủy Khu V về công tác giành dân, giữ dân, xây dựng lực lượng cách mạng, tỉnh đã mở các đợt vận động, đưa hàng ngàn thanh niên tham gia vào các đội du kích và thoát ly lên vùng căn cứ. Song song với việc củng cố, tổ chức các lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh công tác dân vận nhằm cô lập, phân hóa nội bộ địch, đồng thời tranh thủ lực lượng thứ ba với khẩu hiệu “Hòa hợp dân tộc” để đấu tranh chống Mỹ-Ngụy. Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu chống càn, ta tổ chức lực lượng đặc công đánh sâu vào vùng hậu cần của địch, mở rộng vùng giải phóng, phá các khu dồn dân, đưa dân về lại quê cũ.

Sau khi quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ nhằm hủy diệt thủ đô Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972. Trước những chiến thắng của ta trên mặt trận quân sự ở cả hai miền Nam-Bắc, ngày 27-01-1973 Mỹ buộc phải ký vào Hiệp định Paris. Mặc dù Hiệp định đã được ký kết nhưng Mỹ-Thiệu vẫn ra sức phát triển quân đội, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở Phú Yên, chúng đánh phá các cửa khẩu, bao vây kinh tế các vùng giải phóng ở An Lĩnh-Tuy An, Xuân Lãnh-Đồng Xuân, Gò Chợ-Tuy Hòa, đồng thời rải quân chiếm giữ Đường số 7, ra sức củng cố bộ máy tề xã.

Từ giữa năm 1974 trên chiến trường miền Nam đã xuất hiện những nhân tố mới. Nhiều thị trấn, quận lỵ đã được giải phóng. Ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp, phân tích thời cơ và hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 25-02-1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp đề ra chủ trương “động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng bộ, khắc phục mọi khó khăn, giành thắng lợi lớn nhất trong năm 1975, nhằm góp phần với toàn miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong một thời gian ngắn”. Ngày 10-3-1975, quân chủ lực của ta mở cuộc tấn công vào thị xã Buôn Mê Thuột, cũng vào thời điểm đó Phú Yên bắt đầu mở chiến dịch tiến công vào các cứ điểm quan trọng của địch ở Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa. Ngày 14-3-1975, sau nhiều lần tiến công phản kích nhằm chiếm lại Buôn Mê Thuột không thành, quân địch quyết định bỏ Tây Nguyên xuống đồng bằng qua Đường số 5. Nắm được ý đồ của địch, ngày 18-3-1975, Tỉnh uỷ Phú Yên họp quán triệt nhiệm vụ làm tan rã và tiêu hao sinh lực địch trên đường rút chạy. Cho đến ngày 25-3-1975, chỉ từ đoạn Mỹ Thạnh Trung đến Lương Phước trên đường số 5, quân và dân Phú Yên đã tiêu diệt 400 tên địch, làm bị thương 200 tên và bắt sống 1.200 tên, đốt cháy và phá hủy hàng trăm xe quân sự. Chiến thắng Đường 5 là một mốc son lịch sử, mở màn cho chiến dịch giải phóng thị xã Tuy Hòa và các địa phương khác trong tỉnh vào ngày 1-4-1975, góp phần vào chiến thắng chung giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

 Sau ngày thống nhất đất nước, Phú Yên cũng như nhiều tỉnh khác của cả nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Sau 14 năm tỉnh Phú Yên sát nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh, ngày 01-7-1989 tỉnh Phú Yên lại tách ra trở về với tên gọi cũ vốn có. Bắt đầu từ đây, Phú Yên bước vào giai đoạn mới.