II.2-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp ở thế kỷ XIX

           Từ thế kỷ XIX đến sau này, trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, toàn dân Phú Yên đã phát huy hào khí của ông cha ngày trước, lập nhiều chiến công vang dội, mở ra một trang sử mới.

Năm 1858 thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam. Tình hình chính trị, xã hội của Phú Yên cũng như của cả nước đã nhanh chóng chuyển sang một thời kỳ khác: Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, sau một thời gian chuẩn bị, ông Lê Thành Phương-một tú tài Nho học, người làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Phú Mỹ, xã An Hiệp, huyện Tuy An) cùng các sĩ phu yêu nước đã đứng lên chiêu tập sĩ dân kéo cờ khởi nghĩa tại núi Một, thôn Tân An (nay thuộc xã An Hòa, huyện Tuy An). Trong các năm 1885-1886 nghĩa quân của Lê Thành Phương đã đánh thắng nhiều trận và làm chủ một vùng rộng lớn từ Phú Yên đến Bình Thuận. Hoảng sợ trước sự lớn mạnh của phong trào, thực dân Pháp đã đưa một lực lượng lớn lính viễn chinh và tay sai đến Phú Yên để đàn áp. Ngày 11-2-1887 Lê Thành Phương bị giặc bắt, chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc hòng bắt ông khuất phục, song ông đã khảng khái nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (Thà chết chứ không sống nhục). Lê Thành Phương và sau đó một lãnh tụ khác của phong trào là Nguyễn Hào Sự bị địch xử chém. Cuộc khởi nghĩa của Lê Thành Phương mặc dù đã bị thất bại như toàn thể phong trào Cần Vương trong nước nhưng sự nghiệp của ông sẽ còn lưu danh mãi mai sau.

Sau khi cuộc khởi nghĩa do Lê thành Phương khởi xướng và lãnh đạo bị thất bại, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Phú Yên vẫn tiếp tục bùng lên vào năm 1892 với cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân. Năm 1898, dưới lá cờ đề 4 chữ “Minh trai chủ tể” Võ Trứ chỉ huy một đạo quân khoảng 1.000 người, với vũ khí là giáo mác dao rựa từ trên rừng huyện Đồng Xuân kéo xuống tỉnh lỵ Phú Yên ở Sông Cầu, nhằm vây trại lính tập, cướp súng đạn, chiếm các dinh sở của chính phủ Bảo hộ và Nam triều. Tuy nhiên, vì chưa có kinh nghiệm trận mạc, lực lượng của Võ Trứ bị quân địch đàn áp khốc liệt, phải rút vào rừng. Những ngày sau thực dân Pháp đưa quân đi đốt phá, chém giết dân lành vô cùng dã man ở xung quanh khu căn cứ. Trước cảnh thường dân vô tội bị chết oan ức, Võ Trứ quyết định tự nộp mình cho giặc. Sau khi không khuất phục được ông chúng đã chém đầu ông ở cầu Tam Giang. Sự hy sinh anh dũng của ông đã làm cho quân Pháp phải kiêng nể, gọi ông là “Vua người Thượng”.