II.1-Lịch sử Phú Yên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII  

            Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thống lĩnh 26 vạn quân thuỷ bộ tiến vào đèo Cù Mông, lập nên 3 phủ Thăng Hoa (nay là Quảng Nam), Tư Nghĩa (nay là Quảng Ngãi) và Hoài Nhơn (nay là Quy Nhơn). Còn phần đất từ Cù Mông đến Đèo Cả (tức là Phú Yên ngày nay) là vùng đất Kimi-vùng đệm, tranh chấp giữa người Việt và người Chăm. Tính đến nay thì vùng đất Phú Yên có bề dày lịch sử trên 530 năm.

Trong buổi đầu mở đất, vùng đất từ Cù Mông đến Bà Diễn, Đà Nông đều là đất hoang, hoặc sình lầy lau sậy, hoặc gò nống lùm bụi um tùm, “rắn, rết, cọp beo thú dữ nhiều hơn người”. Ngoại trừ những vùng đất ăn sâu vào trong núi, số còn lại nằm ở vùng hạ lưu các con sông, như sông Cái (Tuy An), sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch (Tuy Hoà) đều là những vùng đất sa bồi màu mỡ. Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh đã đưa lưu dân đến khẩn hoang những vùng này trước tiên. Khai hoang đến đâu đều lấy đất chia cho dân sản xuất tới đó, chủ yếu là trồng các loại cây lương thực như lúa, còn ở những vùng đất cao, đất thổ không có điều kiện để đưa nước vào trồng lúa  thì trồng các loại hoa màu như bắp, khoai và các loại đậu…

Trong những năm đầu tiên, trên vùng đất này còn tồn tại hai lãnh thổ khác, mà theo Đại Nam Nhất Thống Chí là lãnh thổ của Thuỷ Xá và Hoả Xá, được mô tả như sau: “Từ huyện lỵ (Đồng Xuân) đi về phía Tây 20 dặm đến xã Phước Đức, lại đi 2 dặm đến thôn Phú Thành, lại đi 1 dặm đến thôn Cự Phú, lại đi thêm 5 dặm đến thôn Vân Hoà, từ đây đi về phía Tây suốt đến địa giới hai nước Thuỷ Xá và Hoả Xá, hai bên ven đường đều là trại người Man, núi khe hiểm trở lại có nhiều nạn cọp”. [11, tr.64].

Còn trong Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện thì viết: “Hai nước Thuỷ Xá, Hoả Xá ở Nam Bàn. Khi vua Lê Thánh Tông đánh được nước Chiêm Thành, lập dòng dõi người nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt núi Thạch Bi lấy đất về phía Tây làm địa giới, có hơn 50 làng. Trong nước có núi Bà Nam rất cao, vua nước Thuỷ Xá về phía Đông, vua nước Hoả Xá về phía Tây núi ấy”. [10, tr.586].

Theo như những mô tả trên đây, thì trong thời kỳ này, đối đầu trực tiếp với Thuỷ Xá, Hoả Xá không phải là triều đình và binh lính mà chính là những lưu dân tiên phong mở đất ở Phú Yên. Trong suốt những năm dài của thế kỷ này (1471–1578 ), vùng đất từ đèo Cù Mông đến Đá Bia đèo Cả, triều đình nhà Lê chưa thiết lập các cơ quan hành chánh, luật pháp một cách chặt chẽ như ở vùng đất kinh đô Chà Bàn phía bắc đèo Cù Mông, mà vẫn coi đây là vùng đất “Kimi” còn đang tranh chấp, là vùng đệm an toàn cho Đại Việt.

 Những lưu dân người Việt đầu tiên đã đến vùng đất này thăm dò tình hình yên ổn về mặt chính trị và quân sự để tiến tới việc sinh cơ lập nghiệp, bởi trên giấy tờ chính thức thì phần đất này là của Đại Việt. Đây có lẽ là một trong những lý do để sau này chúng ta hiểu ra phần nào về “huyền sử Thạch Bi Sơn” với lắm điều tồn nghi hoặc không xác thực: “Vua Lê Thánh Tông lấy núi Thạch Bi làm biên giới và có đề thơ trên đó”.

Bài thơ được vua Lê Thánh Tông khắc trên núi Thạch Bi có hay không, lại được các sử gia thêm bớt cho thêm phần huyền bí. Ở Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 10 có nêu lên sự kiện núi Đá Bia bị sét đánh vào năm thứ VI đời chúa Duệ Tông (tức Nguyễn Phước Thuần), năm Tân Mão 1771, làm cho đá trên núi hoá trắng cả một vùng, đứng xa trông như vôi, bia vẫn còn nhưng chữ thì bị sứt mẻ không nhận ra được.

Trong Phủ Biên Tạp Lục, quyển II, phần nói về hình thế núi sông, thành luỹ, Lê Quý Đôn mô tả Đá Bia rõ ràng và gần sát với thực tế ngày nay hơn, dù rằng cũng có chút thêm thắt mang chất huyền thoại về ngọn núi này: “Núi Thạch Bi ở phủ Phú Yên là chỗ tiên triều phân địa giới với Chiêm Thành, núi đến rất xa, tự đầu nguồn liền lạc đến bờ biển. Núi này cao hơn các núi khác. Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, lấy đất đặt xứ Quảng Nam, lập dòng dõi vua Chiêm Thành cũ , phong cho đất tự núi ấy trở về phía Tây, tạc đỉnh núi lập bia làm địa giới, xoay lưng về phía Bắc, mặt về phía Nam, lâu ngày dấu chữ đã mòn mất… Tháng 12 năm Tân Mão, chợt có một tiếng sét rất to, đá biến thành sắc trắng cả, trông xa một toà núi Thạch Bi đứng sừng sững như đá vôi. Nguyễn Phúc Thuần sai đến tế”. [15, tr.121]

Và trong “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu [33, tr.219] thì cho rằng, trong bi văn khắc vào núi đá Bia có câu:

Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong

An Nam quá thử, tướng tru binh chiết” 

Dịch nghĩa :

Chiêm Thành vượt qua, binh bại nước mất

An Nam vượt qua, tướng chết quân tan

Lịch sử Phú Yên đã mở ra một bước ngoặt mới từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá vào năm 1558, mở ra xứ Đàng Trong. Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh làm Trấn Biên quan, đưa quân vượt đèo Cù Mông, xâm nhập vào vùng đất “Kimi”, đến núi Đại Lãnh. Từ đó Phú Yên hoàn toàn là vùng đất thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn.

Đến đời Lê Thế Tông, vào năm 1597, Lương Văn Chánh nhận sắc dụ của chúa Nguyễn Hoàng vào khai khẩn vùng đất từ Cù Mông đến đèo Cả. Sắc dụ viết: “…dẫn đem theo những hộ dân mới tới đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Nông, trên từ vùng sơn cước, dưới thì đến các cửa biển, cùng nhau lập nhà cửa, khai phá đất hoang hoá thành ruộng vườn, trải qua ba vụ thì nộp thuế như lệ. Nếu sinh việc sách nhiễu nhân dân mà bị phát giác sẽ phải chịu tội…”[14, tr.154].

Lương Văn Chánh phụng mệnh đưa dân  từ Thanh Nghệ, Thuận Quảng vào khai hoang lập ấp. Vào giữa năm 1611, chúa Tiên cử chủ sự Văn Phong vào thiết lập an ninh trật tự, đặt các cơ quan hành chính, quân sự, lập ra Phủ Phú Yên. Năm 1629 dinh Trấn Biên được thành lập, đặt quan tuần phủ cai trị. Phần biên giới giáp Chămpa ở mạn biển đặt ra 38 thuộc có quyền hành và chức năng ngang hàng với các tổng nằm sâu trong đất liền.

                Trong quyển “Nghiên cứu Địa Bạ Triều Nguyễn”, phần phủ Phú Yên, ông Nguyễn Đình Đầu đưa ra nhận xét: “Đất Phú Yên tuy nhỏ hẹp, người không đông, nhưng đã giữ một vị trí chiến lược và bản lề trong sự nghiệp phát triển của toàn dân và đất nước ta vậy”. [13, tr.70]

             Thời kỳ lịch sử tiếp theo, với một vị trí chiến lược quan trọng, Phú Yên là nơi đối đầu quyết liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn bắt đầu khởi nghiệp tại Tây Sơn thượng và Tây Sơn hạ. Sau khi đã tập hợp đầy đủ lực lượng và huấn luyện quân sĩ chu đáo, quân Tây Sơn đánh hạ thành Quy Nhơn, tiến chiếm các phủ Quảng Nam, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận...Do điều kiện địa hình miền Tây Phú Yên có dãy núi La Hiên tiếp giáp với vùng núi An Khê là nơi dấy nghiệp của nhà Tây Sơn nên nhân dân Phú Yên hưởng ứng phong trào rất đông, nhất là đồng bào Bana. Tháng 5-1775, tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp mang quân đánh Phú Yên, quân bộ đóng ở Xuân Đài, quân thủy đóng ở Vũng Lấm. Sau đó quân của Tây Sơn do Nguyễn Quang Sáng, Lương Văn Trực cùng chúa Thủy Xá là Ma Khương tụ quân ở núi Ma Hiên, phối hợp với lực lượng thủy quân của Lưu Quốc Hùng, Trần Văn Nhâm hợp thành lực lượng Tây Sơn hữu đạo, cùng với 2.000 do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Quy Nhơn kéo vào đánh úp quân Tống Phước Hiệp đang đóng tại Xuân Đài và Vũng Lấm vào tháng 7-1775, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp, ghi chiến công vang dội.

Trong suốt 25 năm dài dặc đó (từ 1775-1800) cùng với những biến đổi quan trọng sau những trận chiếm đẫm máu giữa phong trào Tây Sơn và nhà Nguyễn, vì vậy trên vùng đất này đã sinh ra không biết bao nhiêu câu chuyện kể, nửa như là chính sử, nửa như dã sử, như huyền thoại của một thời bi hùng.