III.7-Tôn giáo

            Tôn giáo lâu đời nhất ở Phú Yên là đạo Phật, có từ thời các chúa Nguyễn ở thế kỷ 17. Ngôi chùa được dựng đầu tiên ở Phú Yên là chùa Hội Tôn ở Tuy An do Hòa thượng Tế Viên sáng lập và chủ trì, về sau dời về núi Sơn Chà ở An Thạch và đổi tên là Cổ Lâm. Ngày nay ngôi chùa chỉ còn phế tích với trên 10 ngôi mộ mờ nét rêu phong. Người kế nghiệp Hòa thượng Tế Viên là thiền sư Liễu Quán (người Đồng Xuân), viên tịch vào năm 1742. Ngài là người thuộc đời 35 dòng Lâm Tế. Phần lớn những ngôi chùa ở Phú Yên thuộc phái Lâm Tế, duy chỉ có chùa Long Sơn ở An Mỹ, Tuy An có tổ khai sơn là Tế Tín. Trong thời kỳ chiến tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn phật giáo cũng bị nhiều ảnh hưởng, chùa chiền không được trùng tu, xây dựng, sự truyền bá Phật pháp bị đình đốn, cho đến khi vua Gia Long lên ngôi, Phật giáo ở Phú Yên mới có điều kiện phát triển. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tăng ni phật tử Phú Yên đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân. Bản thân Võ Trứ cũng gia nhập làm môn đệ thầy chùa Đá Bạc ở Bình Định, sau này ông dùng chùa Đá Trắng ở Phú Yên làm nơi hội họp, bàn định kế hoạch đánh Pháp. Ngày 5-10-1963, đại đức Quảng Hương, hiệu Bảo Châu trụ trì chùa Quang Sơn (An Hiệp, Tuy An) đã tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm.

            Đạo Thiên chúa xuất hiện ở Đàng Trong vào năm 1612 tại cửa biển Hội An, đến năm 1618 thì việc truyền giáo đã tới Quy Nhơn. Năm 1641, cố đạo Alexandre De Rhode đã thâu nhận và làm lễ rửa tội cho 91 người dân Phú Yên, trong đó có một người sau này trở thành thầy giảng có tên thánh là Andre Phú Yên. Ở Phú Yên, Mằng Lăng là giáo xứ thiên chúa giáo đầu tiên và nhà thờ Mằng Lăng cũng là nhà thờ được xây dựng đầu tiên vào năm 1892. Linh mục Joseph de La Cassagne (thường gọi là Cố Xuân) là vị linh mục đầu tiên của giáo xứ đồng thời là một đại địa chủ với rất nhiều ruộng đất. Người Phú Yên đầu tiên được phong linh mục vào năm 1929 là ông Nguyễn Văn Quyến, người Mằng Lăng, sinh năm 1897. Tính đến năm 2000, ở Phú Yên có 7 giáo xứ với 21 nhà thờ và 3 nhà nguyện.

            Đạo Tin Lành được du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ở Phú Yên đạo Tin Lành phát triển mạnh và có nhiều cơ sở kể từ sau năm 1954, do được sự đầu tư tiền của, phương tiện và con người của tổ chức Tin Lành thế giới. Địa hạt Tin Lành Phú Yên trực thuộc Hội thánh Tin Lành miền Nam. Do sự phân rẽ của Hội thánh Tin Lành miền Nam, nên đạo Tin Lành ở Phú Yên cũng chịu ảnh hưởng, có nhiều hệ phái, nhất là các hệ phái Tin Lành Mỹ. Đến năm 2000, ở Phú Yên đạo Tin Lành có 2 nhà thờ, 3 nhà nguyện và khoảng 1.500 tín đồ.

            Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của Cao Đài đại đạo tam kỳ phổ độ, ra đời vào đêm Noel năm 1925 ở Nam Bộ, nhằm tập hợp quần chúng chống lại sự kỳ thị, chèn ép, bóc lột của thực dân Pháp. Sau một thời gian, đạo Cao Đài có sự phân hóa chia rẽ thành nhiều hệ phái tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau trong quần chúng. Tuy nhiên, cho đến năm 1995, Nhà nước mới chỉ công nhận hệ phái Cao Đài Tây Ninh. Năm 1996 hệ phái Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng được công nhận. Đạo Cao Đài ở Phú Yên có 5 phái là: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng, phái Định Tường, phái Bến Tre, phái Cầu Kho, mỗi phái có cơ quan lãnh đạo riêng. Về hình thức thờ phụng, ở Phú Yên có 2 dạng: Thánh thất và thiên bàn tư gia.

            Đạo Hòa Hảo, còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, ra đời ngày 15-5-1939, tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, tỉnh An Giang, do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập. Đạo phát triển chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tín đồ phải để râu, búi tóc, ăn chay, sinh hoạt đạo theo lối “tu tại gia”...Ở Phú Yên tín đồ Hòa Hảo không nhiều, đến năm 1996 có khoảng 350 người, tập trung chủ yếu ở xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu.

            Tôn giáo lâu đời nhất ở Phú Yên là đạo Phật, có từ thời các chúa Nguyễn ở thế kỷ 17. Ngôi chùa được dựng đầu tiên ở Phú Yên là chùa Hội Tôn ở Tuy An do hòa thượng Tế Viên sáng lập và chủ trì, về sau dời về núi Sơn Chà ở An Thạch và đổi tên là Cổ Lâm. Ngày nay ngôi chùa chỉ còn phế tích với trên 10 ngôi mộ mờ nét rêu phong. Người kế nghiệp hòa thượng Tế Viên là thiền sư Liễu Quán (người Đồng Xuân), viên tịch vào năm 1742. Ngài là người thuộc đời 35 dòng Lâm Tế. Phần lớn những ngôi chùa ở Phú Yên thuộc phái Lâm Tế, duy chỉ có chùa Long Sơn ở An Mỹ, Tuy An có tổ khai sơn là Tế Tín. Trong thời kỳ chiến tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn phật giáo cũng bị nhiều ảnh hưởng, chùa chiền không được trùng tu, xây dựng, sự truyền bá Phật pháp bị đình đốn, cho đến khi vua Gia Long lên ngôi, Phật giáo ở Phú Yên mới có điều kiện phát triển. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tăng ni phật tử Phú Yên đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân. Bản thân Võ Trứ cũng gia nhập làm môn đệ thầy chùa Đá Bạc ở Bình Định, sau này ông dùng chùa Đá Trắng ở Phú Yên làm nơi hội họp, bàn định kế hoạch đánh Pháp. Ngày 5-10-1963, đại đức Quảng Hương, hiệu Bảo Châu trụ trì chùa Quang Sơn (An Hiệp, Tuy An) đã tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm.

            Đạo Thiên chúa xuất hiện ở Đàng Trong vào năm 1612 tại cửa biển Hội An, đến năm 1618 thì việc truyền giáo đã tới Quy Nhơn. Năm 1641 cố đạo Alexandre De Rhoder đã thâu nhận và làm lễ rửa tội cho 91 người dân Phú Yên, trong đó có một người sau này trở thành thầy giảng có tên thánh là Andre Phú Yên. Năm 1642 thầy giảng Andre Phú Yên được Alexandre De Rhoder đưa ra Hội An để học trường các thầy giảng và trở thành học viên suất sắc nhất mặc dù còn rất trẻ. Năm 1643 thầy giảng Andre Phú Yên  cùng với một số giáo sĩ phương Tây đi truyền giáo tại các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam. Ông đã bị viên quan cai bạ Quảng Nam bắt gian và kết án tử hình vào ngày 26-7-1644 vì không chịu bỏ đạo. Ở Phú Yên, Mằng Lăng là giáo xứ thiên chúa giáo đầu tiên và nhà thờ Mằng Lăng cũng là nhà thờ được xây dựng đầu tiên vào năm 1892. Linh mục Joseph de La Cassagne (thường gọi là Cố Xuân) là vị linh mục đầu tiên của giáo xứ đồng thời là một đại địa chủ với rất nhiều ruộng đất. Người Phú Yên đầu tiên được phong linh mục vào năm 1929 là ông Nguyễn Văn Quyến, người Mằng Lăng, sinh năm 1897. Hiện nay ở Phú Yên có 7 giáo xứ với 21 nhà thờ và 3 nhà nguyện.

            Đạo Tin Lành được du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, còn ở Phú Yên đạo Tin Lành phát triển mạnh và có nhiều cơ sở là từ sau năm 1954, với việc đầu tư tiền của, phương tiện và con người của tổ chức Tin Lành thế giới. Địa hạt Tin Lành Phú Yên trực thuộc Hội thánh Tin Lành miền Nam. Do sự phân rẽ của Hội thánh Tin Lành miền Nam, nên đạo Tin Lành ở Phú Yên cũng chịu ảnh hưởng, có nhiều hệ phái, nhất là các hệ phái Tin Lành Mỹ. Hiện nay ở Phú Yên đạo Tin Lành có 2 nhà thờ, 3 nhà nguyện và khoảng 1.500 tín đồ.

            Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của Cao Đài đại đạo tam kỳ phổ độ ra đời vào đêm Noel năm 1925 ở Nam Bộ, nhằm tập hợp quần chúng chống lại sự kỳ thị, chèn ép, bóc lột của thực dân Pháp. Sau một thời gian, đạo Cao Đài có sự phân hóa chia rẽ thành nhiều hệ phái tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau trong quần chúng. Tuy nhiên cho đến năm 1995 Nhà nước mới chỉ công nhận hệ phái Cao Đài Tây Ninh, năm 1996 hệ phái Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng được công nhận. Đạo Cao Đài ở Phú Yên có 5 phái là: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài truyền giáo Đà Nẵng, phái Định Tường, phái Bến Tre, phái Cầu Kho, mỗi phái có cơ quan lãnh đạo riêng. Về hình thức thờ phụng, ở Phú Yên có 2 dạng: Thánh thất và thiên bàn tư gia.

            Đạo Hòa Hảo, còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, ra đời ngày 15-5-1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, tỉnh An Giang, do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập. Đạo phát triển chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tín đồ phải để râu, búi tóc, ăn chay, sinh hoạt đạo theo lối “tu tại gia”...Ở Phú Yên tín đồ Hòa Hảo không nhiều, đến năm 1996 có khoảng 350 người, tập trung chủ yếu ở xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu.