III.3-So sánh, đối chiếu với các dị bản 

 III.3.1-Số lượng các dị bản:

Trong số các truyền thuyết và huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, số lượng các truyện có dị bản chiếm tỷ lệ không nhiều: 17/58 truyện (31%). Qua t́m hiểu phát hiện một số dị bản sau đây: 

1-Tiên nữ ở Băi Tiên. (01 dị bản)

2-Hoàng tử của Long Vương lạc vào cù lao Ông Xá. (01 dị bản)

3-Huyền thoại về tên gọi đầm Ô Loan. (01 dị bản)

4-Lă Vọng câu cá. (01 dị bản)

5-Gành Đá Đĩa và huyền thoại về kho báu biến thành đá. (02 dị bản)

6-Chùa Lầu và thiên t́nh sử. (01 dị bản)

7-Long Thuỷ-chuyện rồng phun nước cứu dân. (01 dị bản)

8-Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên ḥn Chùa. (01 dị bản)

9-Truyền thuyết về núi Đá Bia. (01 dị bản)

10-Bàn cờ tiên ở đập Hàn. (01 dị bản)

11-Ngôi miếu thờ bà Trang ở Hảo Sơn. (01 dị bản)

12-Huyền thoại Vực Phun. (02 dị bản)

13-Tiên nữ ở bàu Hương (01 dị bản)

14-Vườn chè trên núi Chúa. (02 dị bản)

15-Núi mẹ bồng con. (01 dị bản)

16-Huyền thoại dấu chân Y Rít và bến nước buôn Chơ. (02 dị bản)

17-Chuyện t́nh bên thác H’Ly. (01 dị bản)

 Hầu hết mỗi truyện chỉ có một dị bản, chỉ 2 truyện ở vùng núi và 2 truyện ở đồng bằng là có 2 dị bản. 

III.3.2- Chủ đề của các dị bản:

-7 truyện liên quan đến thần tiên (Tiên nữ ở Băi Tiên, Huyền thoại Vũng Lắm, Huyền thoại đầm Ô Loan, Lă Vọng câu cá, Long Thuỷ, Bàn cờ tiên ở đập Hàn. Tiên nữ ở bàu Hương).

-3 truyện liên quan đến nhân vật lịch sử (Tuyền thuyết về núi Đá Bia,  Ngôi miếu thờ bà Trang, Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên ḥn Chùa).

-5 truyện có nội dung về địa danh và về nhân vật (Gành Đá Đĩa, Chùa Lầu và thiên t́nh sử, Vườn chè trên núi Chúa, Núi Mẹ Bồng Con, Chuyện t́nh bên thác H’Ly).

-2 truyện ở vùng núi liên quan đến người anh hùng của bộ tộc (Huyền thoại Vực Phun và Huyền thoại dấu chân Y Rít và bến nước buôn Chơ). 

 III.3.3- Nội dung của các dị bản:

 *Các truyện ở đồng bằng:

          -Hầu hết các dị bản đều có nội dung, kết cấu gần sát với bản gốc, nhưng có sự thay đổi về nhân vật chính. Điều quan trọng là nguyên nhân h́nh thành nên các địa danh không thay đổi (Tiên nữ ở Băi Tiên, Hoàng tử của Long Vương lạc vào cù lao Ông Xá, Huyền thoại về tên gọi đầm Ô Loan, Long Thuỷ-chuyện rồng phun nước cứu dân, Ngôi miếu thờ bà Trang, Gành Đá Đĩa và huyền thoại kho báu biến thành đá, Chùa Lầu và thiên t́nh sử, Tiên nữ ở bàu Hương…)

          -Chỉ có một số ít truyện có thay đổi cơ bản về nội dung, hoặc nhân vật chính (Vườn chè trên núi Chúa, Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên ḥn Chùa…).

 * Các truyện ở miền núi:

Hầu hết các dị bản có những khác biệt đáng kể so với bản chính, về số phận của nhân vật chính, về nội dung câu chuyện và nguyên nhân h́nh thành nên những địa danh (Huyền thoại Vực Phun và sông Bánh lái, Huyền thoại dấu chân Y Rít và bến nước buôn Chơ, Chuyện t́nh bên thác H’ly).

 Qua phân tích số lượng, chủ đề và nội dung của các dị bản, ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

 -Số lượng các dị bản:

Ở vùng đồng bằng số lượng các dị bản ít (mỗi truyện chỉ có 1 dị bản, chỉ có 2 truyện có 2 dị bản). Ở vùng núi số lượng các dị bản của mỗi truyện nhiều hơn (2 dị bản).

 -Chủ đề các dị bản:

Chủ đề của các dị bản khá đa dạng và phong phú: Về thần tiên, về nhân vật lịch sử, về địa danh, về anh hùng bộ tộc.

-Nội dung của các dị bản:

Ở đồng bằng, các dị bản có nội dung không có khác biệt  lắm so với bản gốc. Ở vùng núi, các dị bản có nội thay đổi đáng kế so với bản gốc (về số phận và nguồn gốc xuất thân của nhân vật chính, về diễn biến câu chuyện, về nguyên nhân h́nh thành nên những địa danh (cùng một địa danh nhưng có nhiều cách lư giải nguồn gốc h́nh thành khác nhau). Điều này rất quan trọng, chứng tỏ khả năng tư duy trong lĩnh vực văn nghệ dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số rất phong phú, chính v́ vậy đă tạo nên nhiều bản trường ca bất hủ.