III.2-Trang phục

Trang phục của người Việt ở Phú Yên từ thời xa xưa nằm trong khuôn phép quy định của triều đình cũng như trào lưu ăn mặc của người Việt ở miền Trung nói chung. Ở Đàng Trong, từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhà Nguyễn khuyến khích phụ nữ mặc quần. Nhất là từ khi vua Minh Mạng ra chiếu cấm phụ nữ mặc váy vào năm 1828dried khuog sa thì cả đàn ông và đàn bà ở Phú Yên đều mặc quần. Áo của phụ nữ gọi là áo bà ba, vào dịp lễ hội thì có thêm chiếc áo dài 5 thân. Sang đầu thế kỷ 20 trang phục của người Việt bị ảnh hưởng của trang phục châu Âu, nam mặc quần âu, áo sơ mi. Phụ nữ mặc đồ bộ với đủ màu sắc, hoa văn. Có thể nói, đồ bộ là một sáng tạo của phụ nữ Nam Trung bộ và Nam bộ, rất thuận lợi trong sinh hoạt và phù hợp với thời tiết nóng bức.

Trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, nam đóng khố, cởi trần hoặc áo khoác, nữ mặc váy, áo. Điều đặc biệt dễ nhận thấy là trên trang phục của đồng bào dân tộc ít người ở miền núi bao giờ cũng có các họa tiết hoa văn truyền thống với màu sắc khá sặc sỡ.

Để đáp ứng cho nhu cầu mặc, từ xa xưa người Phú Yên đã biết tự trồng bông, hoặc trồng dâu nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải. Hai làng dệt vải nổi tiếng nhất của người Việt ở Phú Yên là Ngân Sơn ở hạ lưu sông Kỳ Lộ và Đông Bình ở hạ lưu sông Đà Rằng. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, người dân Phú Yên đã dệt được vải xi-ta vừa bền vừa đẹp.