9-CHÙA LẦU VÀ THIÊN TÌNH SỬ

          Chùa Lầu là tên gọi dân gian do rường cột xây theo lối cổ lầu. Tên chữ của ngôi chùa này là Phước Lâm Tự tại thôn Tuy Dương xã An Hiệp.

Chùa được khai sáng vào đời Hậu Lê, cách nay khoảng 300 năm. Các di tích hiện còn  là năm ngôi tháp táng các vị hoà thượng và các tháp Bửu Đồng, tháp Ni cô…

Chùa Lầu cũng bình thường như bao ngôi chùa khác, được xây trên lưng chừng ngọn đồi thấp. Toàn khu vực chùa rộng trên dưới 600 mét vuông trồng nhiều cây ăn trái đã già cỗi. Cả vườn rậm rịt vì cỏ dại và gai góc. Nền chùa rộng chừng 20 mét vuông theo kiểu hình chữ MÔN. Rường chùa theo kiểu cổ lầu, vật liệu toàn bằng gỗ gồm cột, kèo, xá, trính, quyết, cửa sổ, cửa đi… được bào láng và chạm trổ rất công phu. Gỗ để dựng chùa hầu hết là gỗ quí như Lim, Gõ, Mìn Lin… Do vị trí chùa được xây dựng trên lưng chừng đồi nên khung cảnh ở nơi này rất tĩnh lặng, du khách đến dễ có cảm giác tâm hồn thanh thản, chay tịnh. Muốn đến chùa Lầu thì từ chợ Thứ [1] đi khoảng 3 cây số nữa đến chợ Lẫm ồi rẽ phải là đến chùa. Từ dưới dốc lên tới cổng tam quan dài 300 mét có lát những tảng đá lớn được đẽo gọt phẳng phiu, hai bên lề có những cây cổ thụ tán lá rộng xoè ra che kín cả lối đi, tạo thành bóng râm mát quanh năm. Do đường lên chùa dốc lài cao, nên nhà chùa có đặt một số vò nước bên cạnh gốc cây cổ thụ để khách thập phương uống giải khát, hay rửa mặt. Đó là nói về những năm trước, chứ ngày nay, những cây cổ thụ này bị chặt gần hết, đường lên chùa trống trơn, chói nắng.

Tuy phải chứng kiến cảnh vật đổi sao dời, nhiều chỗ, nhiều nơi bị thay đổi nhưng thiên tình sử xảy ra tại ngôi chùa này vẫn mãi mãi lưu truyền trong dân gian:

 Thời xa xưa, có đôi trai tài, gái sắc yêu nhau tha thiết nhưng do không môn đăng hộ đối nên cha mẹ không bằng lòng, bắt phải chia loan rẽ thúy. Để giữ trọn mối tình chung thuỷ với chàng trai, nàng đã bỏ gia đình lần bước lên Phước Lâm tự với con tim tan nát, với tâm trạng rối bời. Những giọt nước mắt theo từng bước chân nàng ngược lên dốc khiến cho những tảng đá lớn trên đường đi cũng tan ra và phẳng phiu như ngày nay còn thấy. Đến cổng tam quan, nàng ngoái nhìn lần chót về phương Nam nơi nhà nàng và nhà chàng cách nhau một con sông cạn, nơi chàng và nàng thề non hẹn biển trên soi cát đầy những bông bí, bông mướp vàng rực, rồi gạt nước mắt bước tới chánh điện xuống tóc, xin gửi thân nương nhờ cửa Phật để giữ trọn tình với chàng trai.

Người yêu ra đi biệt tăm không một lời từ biệt, khiến chàng trai vô cùng đau khổ. Chàng không còn thiết gì tới việc đèn sách, ăn uống. Sau đó, chàng cũng bỏ nhà ra đi, quyết tâm tìm cho ra tung tích người yêu để nói câu cuối cùng. Chàng đi hết rừng này đến đèo nọ, sông suối lùi lại sau những bước chân chàng. Một ngày kia, chàng tới chân dốc một gọn đồi và thiếp đi vì đói khát và mệt nhọc. Trong giấc ngủ chập chờn mệt mỏi, chàng thấy một đàn bướm màu vàng nối cánh từ chân dốc ngược lên tận đỉnh đồi. Chàng sực tỉnh, thấy hình như trước mắt vẫn còn váng vất những cánh bướm xa gần đâu đây. Lấy làm lạ, chàng men ngược lên đỉnh, tới một gốc cây cổ thụ, chàng thấy một vò nước trong bèn bưng uống thì thấy người tỉnh táo và mạnh mẽ lạ thường, như chưa hề trải qua chặng hành trình vất vả nhiều tháng liền. Chàng tiếp tục leo dốc lên ngôi chùa và nhìn thấy một ni cô đang quét sân chùa, hoá ra là người yêu cũ của chàng. Chàng khẩn khoản xin nàng hãy trở về cõi tục để nối lại duyên xưa như lời thề ước ngày nào. Nhưng nàng một mực chối từ, nhất định gửi thân cửa Phật. Chàng trai vẫn kiên trì thuyết phục nhưng cô gái một mực giữ trọn lời nguyền với Phật. Vô cùng thất vọng, chàng trai thất thểu xuống núi và nằm chết dưới chân dốc, biến thành tảng đá có hình người, đầu quay lên cổng tam quan, như gửi tấm lòng son sắt của mình cho người yêu là ni cô.

 Dị bản:

Cùng có nội dung như trên, nhưng nhiều ngườig dân trong địa phương lại kể khác đi ở đoạn kết: chàng trai không gục chết ở chân dốc trước cổng tam quan, mà chàng thất vọng ra đi biền biệt và chết trên hòn Chóp Vung cách đó không xa. Trên núi này cũng có tảng đá giống hình người nằm ngủ, đầu quay về hướng chùa Phước Lâm .

Ngày nay còn lưu truyền câu ca về chợ Lầu, xin được chép ra đây:

Ngó lên dốc Mụt chùa Lầu

Cảm thương em bậu buổi đầu thâm ân

Kể từ qua lại mấy lần

Nào ai phả lấp sông Ngân suối vàng

Gẫm trong kim cổ kỳ quan

Bước vô vườn liễu bông hoa tàn vì ai

Nhìn xem nguyệt quế non đoài

Bóng trăng lờ lợt biết ai nương cùng

Tận xưa rày nhơn nghĩa bập bùng

Xuống lên không đặng tỏ cùng ai hay

Mưu kia thế nọ ai bày

Làm cho chàng thiếp mỗi ngày  mỗi xa.

 

(Theo lời kể trong dân gian, có đối chiếu “Địa danh Phú Yên” của Nguyễn Đình Chúc).

--------------------------------------------------------------------
 

[1] Chợ Thứ được hình thành cách đây trên 120 năm vào đời vua Hàm Nghi. Ông Lê Thành Phương người lãnh đạo phong trào Cần Vương đã đóng quân tại đây, và để thuận tiện cho việc tiếp tế lương thực, ông cho thành lập chợ để dân chúng quanh vùng mang các sản vật, lương thực, thực phầm đến buôn bán, trao đổi. Sau khi phong trào thất bại, Lê Thành Phương bị giặc Pháp bắt và xử tử, nhân dân trong vùng nhớ ơn ông vẫn tiếp tục họp chợ nhưng không thường xuyên như trước, mà mỗi tháng chỉ họp 3 lần vào các ngày lẻ. Ngày nay chợ vần tiếp tục buôn bán bình thường như những chợ khác trong huyện.