frameleft href
frameright
 

Câu cá ngừ đại dương

Hành trình tìm vàng giữa lòng biển khơi

Không hổ danh là địa phương đi tiên phong trong phong trào câu cá ngừ đại dương, trong những năm qua, Phú Yên luôn giữ vị trí dẫn đầu cả nước về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cá ngừ đại dương. Năm 2004, sản lượng khai thác toàn tỉnh đạt 4.150 tấn, chiếm 40% sản lượng của cả nước, trong đó 80% dành cho xuất khẩu, thu về 230 tỷ đồng. Chưa bao giờ cá ngừ "được mùa" như hiện nay, và cũng chưa bao giờ nỗi lo về nghề đánh bắt xa khơi này và những bất cập của nó bộc lộ rõ nét đến như vậy.

Kiên nhẫn bám biển trong hàng tháng trời. Đón Tết nguyên đán trên biển cũng chẳng phải chuyện hiếm. Sẵn sàng đối đầu với biết bao hiểm họa khôn lường, nhiều khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng. Thậm chí có những ngư dân gặp nạn được cứu sống trong đường tơ kẽ tóc đã ngay lập tức lại bám biển vươn khơi. Thế mới hiểu hết được những lực hấp dẫn mạnh mẽ của nghề câu cá ngừ đại dương đối với những ngư dân Phú Yên. Vất vả là thế, nhưng một chuyến đi biển đem lại cho họ mức lợi nhuận trung bình 20 - 40 triệu đồng - một số tiền khổng lồ mà chỉ độ chục năm trước đây thôi, có nằm mơ họ cũng chẳng bao giờ nghĩ tới.

"Sứ giả của đại dương" - sứ giả của no ấm

Nghề câu cá ngừ đại dương lần đầu tiên được người Việt Nam biết đến vào năm 1995 với công đầu thuộc về ông Sáu Liên - ngư dân phường 6, thành phố Tuy Hoà. Tuy nhiên, trong thời gian đầu, nghề này còn bấp bênh, một phần do ngư dân chưa quen ngư trường, thiếu kinh nghiệm đánh bắt và bảo quản, một phần do giá cả biến động, nên không ít thuyền nghề bị thua lỗ.

Từ năm 2000 trở lại đây, nghề câu cá ngừ đại dương mới thật sự khẳng định được vị thế trong nghề đánh bắt hải sản xa bờ của Phú Yên và lan rộng ra các tỉnh lận cận. Đối với những người dân vùng biển, hai loại cá ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng vốn được mệnh danh là những "sứ giả của đại dương" đã thực sự trở thành sứ giả của no ấm.

ở Phú Yên, trong hai năm 2003 - 2004, nghề câu cá ngừ đại dương đã có bước phát triển nhảy vọt. Nếu năm 2002 sản lượng cá ngừ của tỉnh chưa đến 1.800 tấn, thì đến năm 2004 đạt 4.150 tấn, chiếm hơn 40% sản lượng khai thác cá ngừ của cả nước. Điều đáng mừng, giá cá ngừ trong thời gian này luôn ở mức cao, cá loại 1 dao động trong khoảng 60 - 70 nghìn đồng/kg, nên hầu hết các tàu, thuyền tham gia vào nghề câu cá ngừ đều có lãi khá. Số lượng tàu thuyền đánh bắt cá ngừ tăng nhanh. Mỗi năm, Phú Yên có hơn 100 phương tiện tàu, thuyền được cải hoán hoặc đóng mới để vươn khơi. Riêng năm 2004, ngư dân trong tỉnh đã đưa vào sử dụng 120 chiếc với tổng công suất 11.100 CV (bình quân 90 CV/chiếc), đưa tổng số tàu, thuyền chuyên khai thác cá ngừ toàn tỉnh lên hơn 650 chiếc.

Thu hoạch cá ngừ đại dương

Ông Nguyễn Hữu Vinh - Giám đốc Cảng cá Phú Yên - cho biết: "Vào vụ chính, từ tháng 2 đến tháng 9, hàng ngày, cảng cá phường 6 có khoảng 10 tàu, thuyền khai thác cá ngừ về bến, tàu ít nhất cũng được năm tạ, nhiều thì hàng tấn, tàu lãi ít cũng được 5 - 7 triệu đồng, còn tàu nào "trúng" lãi đến vài ba chục triệu đồng". Điển hình như ông Trần Văn Xê ở phường 6 (thành phố Tuy Hòa), vào nghề từ năm 1996 với chiếc thuyền công suất 90 CV. Ba năm sau, ông đóng mới chiếc thứ hai và hiện đang đóng chiếc thứ ba lớn gấp rưỡi các chiếc trước. Năm 2004, mỗi thuyền của ông câu hơn tám tấn cá ngừ, thu lãi gần 200 triệu đồng. Những người đi với ông Xê cũng được chia 5 - 10 triệu đồng mỗi chuyến đi biển. Ông Trần Văn Nhu cũng là người câu cá ngừ nổi tiếng ở thị trấn Phú Lâm, năm 2004 đi tám chuyến biển, thu nhập hơn 500 triệu đồng. Nhờ trúng mùa cá ngừ mà đời sống ngư dân các làng biển được cải thiện rất nhiều. Diện mạo của những làng biển được mệnh danh là "làng cá ngừ" như: Phú Câu (phường 6 - thành phố Tuy Hòa), khóm 6 (thị trấn Phú Lâm), Tiên Châu (Tuy An),... thay đổi nhanh chóng.

Nhọc nhằn mưu sinh

Hiệu quả của nghề khai thác khơi xa này đã được khẳng định, song những bất cập của nó cũng đang bộc lộ rõ nét. Cuộc đua đóng thuyền lớn và cạnh tranh đánh bắt trên ngư trường đang diễn ra khá gay gắt. Cá có trọng lượng lớn khai thác được ngày càng khan hiếm cho thấy nguồn lợi này đang đứng trước nguy cơ suy giảm. Ông Phạm Ngọc Hoè - Tổng Giám đốc Tổng công ty Hải sản biển Đông (ESFICO) - cho biết: "Do có trên 1.000 tàu hoạt động trong ngư trường khai thác cá ngừ đại dương, nên đã xảy ra tình trạng tranh nhau khai thác, đánh bắt cả những loại cá không đủ kích cỡ, trong khi Hiệp hội cá ngừ thế giới đã khuyến cáo các nước thành viên phải giảm 30% năng lực khai thác để bảo vệ nguồn lợi và tăng giá trị xuất khẩu".

Phú Yên là địa phương đi đầu cả nước trong khai thác cá ngừ đại dương, thế nhưng vấn đề đầu tư trang thiết bị, phương tiện vẫn là một trong những bất cập lớn. Ông Võ Châu - Giám đốc Sở Thuỷ sản Phú Yên - cho biết: "Phần lớn đội tàu khai thác cá ngừ đại dương hiện nay của Phú Yên là đội tàu ngư dân, chưa đầu tư trang thiết bị hiện đại nên đánh bắt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm". Ngoài một số ít đội tàu chuyên dùng của một số doanh nghiệp nhập từ nước ngoài có công suất máy chính 200 - 750 CV, được trang bị các thiết bị điện tử hàng hải, cơ giới hóa thu câu và thả câu, bảo quản lạnh cá ngừ bằng dung dịch nước ngọt và nước muối ở nhiệt độ -8oC, chịu được sóng gió cấp 7 - 8 và bám biển 30 - 40 ngày, đội tàu của ngư dân chủ yếu trang bị thô sơ, công suất dưới 100 CV, thiếu thiết bị bảo quản, chỉ hoạt động trong thời gian 10 - 15 ngày, khả năng chịu đựng sóng gió thấp, vừa giảm chất lượng cá khai thác vừa nguy hiểm đến tính mạng của ngư dân.

Vật lộn giữa biển khơi mênh mông, ngư dân còn thường xuyên đối mặt với nhiều hiểm họa khôn lường. Không ít trường hợp bị tàu nước ngoài có trang bị vũ khí trấn áp đánh người, cướp lưới, cướp cá, hoặc bị tàu lớn va chạm làm chìm. Còn chuyện mất lưới, mất câu, va chạm nhau là chuyện thường xuyên xảy ra. Nguy hiểm hơn cả là khi gặp bão không "chạy" vào bờ trú ẩn kịp thời. Năm 2004, Phú Yên có 72 vụ tai nạn trên biển, làm mất hai tàu và 12 người chết, mất tích. Chỉ trong vòng hơn 10 ngày (từ 27-12-2004 đến 7-1-2005) đã có chín thuyền câu cá ngừ của Phú Yên bị nạn, trong đó có ba thuyền bị chìm. Trong khi đó, để có được một chiếc tàu đánh bắt hải sản xa bờ, ngư dân phải đầu tư bạc tỷ, mỗi chuyến ra khơi thường kéo dài 15 - 20 ngày, chi phí khoảng 20 triệu đồng. Đó là một gia sản lớn mà không dễ mấy ngư dân vùng biển miền Trung này có được.

Mặc dù gặp nhiều bất trắc, rủi ro, nhưng câu được cá, đưa được cá vào bờ, ngư dân vẫn chưa hết lo. Hiện nay, việc thu mua hầu như bị tư thương chi phối, nếu ngày nào lượng cá về bến nhiều dĩ nhiên ngư dân sẽ bị ép giá. Chẳng hạn, năm 2003, giá thu mua cá ngừ có lúc giảm còn 30 nghìn đồng/kg đối với loại đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Như vậy, nếu một chuyến đi biển chỉ khai thác được 700 kg thì chủ thuyền chỉ hoà vốn, thậm chí lỗ ít nhiều. Thêm vào đó, những hạn chế trong kỹ thuật bảo quản (ướp bằng nước đá xay vụn trong thời gian dài trên biển) cũng khiến cho chất lượng cá ngừ thấp, chỉ có khoảng 50 - 60% sản lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, còn lại phải bán cho các nhà máy chế biến đồ hộp trong nước với giá thấp. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng trạm thu mua cá ngừ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Anna Sea (thành phố Hồ Chí Minh) đặt tại bến cá phường 6, Tuy Hòa - cho biết: "Giá cá ngừ ở Phú Yên nói riêng, Việt Nam nói chung thấp hơn so với các nước khác là do kỹ thuật sơ chế cá chỉ đáp ứng được 50% tiêu chuẩn chất lượng theo đòi hỏi của thị trường thế giới". Theo điều tra của Trung tâm giống và kỹ thuật thuỷ sản Phú Yên, tại Nhật Bản, do ngư dân sử dụng tàu hiện đại với thời gian câu ngắn, sơ chế cá trên biển bằng công nghệ hiện đại nên giá cá ngừ đại dương khoảng 1.600 yên/kg (230 nghìn đồng/kg), trong khi đó cá ngừ Việt Nam xuất khẩu sang chỉ bán được bằng nửa giá.

Đi tìm giải pháp

Vươn ra khơi xa làm chủ ngư trường để đánh bắt cá ngừ đại dương là hướng đi tích cực. Song, những tồn tại trên đang là lực cản không nhỏ để nghề phát triển bền vững mà bản thân ngư dân không thể tự khắc phục. Các ngành chức năng cần điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, hướng dẫn ngư trường và thời vụ khai thác hợp lý để tránh làm cạn kiệt loài cá xuất khẩu có giá trị kinh tế cao này. Đã đến lúc cần có đội tàu chuyên nghiệp làm dịch vụ hậu cần trên biển để ngư dân có thể tiếp nhiên liệu, thực phẩm, giảm bớt chi phí ra vào bờ và có thêm thời gian đánh bắt; đồng thời có thể bán cá ngay khi vừa đánh bắt được.

Theo các chuyên gia, hiện nay, nghề câu cá ngừ đại dương không nên phát triển theo hướng tăng số lượng tàu thuyền, mà chủ yếu nâng cấp công suất tàu và phương tiện, đồng thời đào tạo, nâng cao tay nghề cho ngư dân. Trước mắt cần trang bị cho họ kỹ thuật sơ chế cá đạt chất lượng cao hơn để bán được giá hơn, đồng thời tỉnh cần sớm hình thành chợ chuyên mua bán cá ngừ, mua bán đấu giá công khai để ngư dân đỡ thiệt thòi do bị ép giá; tiến tới xây dựng thương hiệu cá ngừ Việt Nam. Bộ Thuỷ sản đã đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa Dự án trung tâm thu mua và hệ thống dịch vụ hậu cần cá ngừ tại Phú Yên vào danh mục đầu tư bằng nguồn vốn viện trợ ODA không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản. Theo đó, Trung tâm mua bán cá ngừ hiện đại đầu tiên trong nước sẽ được xây dựng trên diện tích 10 nghìn m2 tại bến cá phường 6, bao gồm: các khu tiếp nhận, sơ chế; khu đấu giá, kho lạnh, khu cung cấp nguyên liệu nước đá, ngư cụ, cơ khí,Ặ nhằm mục tiêu cải thiện hệ thống phân phối cá ngừ tại Phú Yên, nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu của mặt hàng này.

Các ban, ngành chức năng cần vận động ngư dân xây dựng thành những đội tàu an toàn với yêu cầu các tàu, thuyền phải được trang bị đầy đủ các phương tiện cứu hộ, cứu nạn như: phao cứu sinh, máy bộ đàm,... Xây dựng lực lượng dân quân trên biển đủ mạnh để hỗ trợ nghề khai thác hải sản khơi xa, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển cũng là vấn đề đặt ra cho đội tàu, thuyền khai thác khơi xa trong tình hình hiện nay. Ông Biện Minh Tâm - Phó Giám đốc Sở Thủy sản Phú Yên - cho biết: "Ngư dân câu cá ngừ còn rất đơn độc trên biển, trong khi trình độ hiểu biết về luật hàng hải theo thông lệ quốc tế rất hạn chế, khó có thể tự giải quyết tranh chấp với tàu nước ngoài. Do vậy, chúng tôi đang cố gắng nâng cao trình độ hiểu biết về luật pháp quốc tế, sử dụng thành thạo các thiết bị hàng hải thông qua các lớp huấn luyện thuyền trưởng và tổ chức cho các tàu, thuyền thành từng đội để tương trợ, giúp đỡ nhau, nhất là lúc gặp sự cố. Đó là cách họ tự cứu mình trước khi có sự can thiệp của cơ quan chức năng".

Được ví như hành trình đi tìm vàng giữa lòng biển khơi, dẫu còn lắm nỗi nhọc nhằn, hiểm nguy, câu cá ngừ đại dương vẫn là nghề mưu sinh của hàng nghìn ngư dân Phú Yên. Đầu tư toàn diện từ hệ thống tàu thuyền, trang thiết bị đánh bắt hiện đại, nâng cao tay nghề cho ngư dân đến dịch vụ hậu cần nghề cá, tiến tới xây dựng thương hiệu cho cá ngừ Việt Nam,... là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các cấp chính quyền, các ban, ngành chức năng. Có như thế, ngư dân mới có đủ lực để bám biển, vươn khơi, khai thác hiệu quả nguồn lợi thuỷ sản to lớn này.

Đánh giá về tiềm năng khai thác cá ngừ của Việt Nam, ông Phạm Ngọc Hoè - Tổng Giám đốc Tổng công ty Hải sản biển Đông (ESFICO) - cho biết: "Về mùa vụ, cá ngừ có thể khai thác gần như quanh năm (trừ những ngày gió bão). Mùa vụ chính bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, thường cho sản lượng và chất lượng cao nhất trong năm. Đối tượng khai thác chính ở vùng khơi sâu biển Đông là cá ngừ mắt to (big-eye tuna), ngừ vây vàng (yellowfin tuna), trọng lượng trung bình 40 kg/con".

Tìm hiểu về Nghề câu cá ngừ đại Dương ở Việt nam

Cá ngừ đại dương là đối tượng khai thác quan trọng của nghề cá toàn cầu. Song ở Việt Nam, nghề câu cá ngừ đại dương mới phát triển trong khoảng 10 năm trở lại đây và cũng chỉ tập trung ở vùng biển Phú Yên và một số tỉnh lân cận. Vì thế, nghề câu cá ngừ đại dương còn xa lạ với hầu hết người dân Việt Nam.

Nghề câu có từ bao giờ?

Người được coi đã phát hiện nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam là ông Trần Văn Liên (Sáu Liên), ở làng biển Phú Câu, thuộc phường 6, thành phố Tuy Hoà. Theo lời kể của ông Sáu Liên, trước năm 1994, đội ghe tàu của Phú Yên chủ yếu làm nghề câu giã cào, lưới cảng, lưới mành,... chuyên đánh bắt cá nhỏ gần bờ, hiệu quả kinh tế thấp. Năm 1994, trong một chuyến đi đánh lưới chuồn, lưới của ông dính giàn câu của một tàu Đài Loan). Khi gỡ lưới ra, tình cờ phát hiện những chú cá ngừ mắc câu. Mổ bụng cá thấy cái lưỡi câu khổng lồ, trong bụng con cá ngừ còn nguyên những chú cá chuồn tươi rói. Với dân đi biển, đó là kinh nghiệm quý báu. Ông bàn với thợ thuyền tìm cách sản xuất giàn câu và lưỡi câu giống tàu Đài Loan. Đợt đi đánh thử đầu tiên cách bờ gần 10 hải lý. Chỉ trong vài ngày, tàu ông đã bắt được gần chục con cá ngừ. Sau này, dần dân ngư dân các địa phương khác như: Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi,... học hỏi kinh nghiệm, hình thành nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam.

Theo ông Sáu Liên, tên gọi cá ngừ đại dương chỉ có từ khi chương trình đánh bắt xa bờ của Chính phủ ra đời, còn trước đó ngư dân gọi loại cá này là cá bò gù. Hồi đó, hiếm khi nào câu được những con cá to như thế, nên khi ì ạch kéo được chúng lên thuyền là mệt đứt hơi. Anh em bảo con cá này to như con bò, lưng lại gù nên đặt tên là cá bò gù.

Nghề câu cũng lắm công phu

Câu cá ngừ là một dạng "câu vàng" giống hệt như câu cá mập. Công việc vất vả, cực nhọc và rất nguy hiểm, bởi cá ngừ lớn, hung tợn không thua "sư tử" biển. Tuy nhiên, cá mập chỉ nổi lên vào mùa biển động, sóng to, gió lớn, còn cá ngừ có thể câu được quanh năm, lại cho thu nhập cao hơn nhiều.

Công đoạn thả câu bắt đầu từ 13 giờ và kết thúc vào lúc sẩm tối. Thời điểm kéo câu lên tàu vào khoảng 23 giờ cho đến lúc bình minh. Một giàn câu dài khoảng 20 km với khoảng 600 - 700 lưỡi câu lớn cột đều trên sợi triên chính, mồi là mực xà hoặc cá chuồn được thả dọc đường tàu chạy (Vài năm trước, mồi câu cá ngừ chủ yếu là cá chuồn, nhưng hiện nay chủ yếu dùng bằng mực xà, tuy có tốn kém hơn nhưng bù lại thu hoạch được nhiều cá hơn). Việc thả câu xuống nước được thực hiện theo lộ trình nhất định và rất bài bản: người móc mồi chờ sẵn, người tròng phao, người quăng dây triên xuống biển,... theo đường tàu chạy với vận tốc khoảng 20 hải lý/giờ.

Cánh thợ câu cho biết, móc mồi, thả câu là một chuyện, công đoạn bắt cá ngừ lên tàu mới là chuyện thú vị và lắm hiểm nguy. Thường thì trong tàu phải có một người chuyên làm công việc lừa cá mỗi khi cá cắn câu. Người lừa cá phải khéo léo, nhuần nhuyễn từng công đoạn, biết nhu và cương hợp lý như người nghệ sĩ chơi vĩ cầm. Nếu lỡ trượt mất cá thì coi như mất vài triệu bạc, công sức coi như bỏ biển. Người lừa cá cầm dây câu căng như dây đàn, vừa tung, vừa hứng, vừa nhu, vừa cương. Khoảng 15 phút, sau khi cá đã mệt thì kéo cá lại sát mạn thuyền, rồi dùng cần câu táp (một loại cần câu bằng gỗ rất cứng) móc trúng đầu cá. Người móc cá cũng phải khéo léo, chỉ được móc ngay phần đầu của cá, nếu móc trật ra ngoài thì giá trị sản phẩm chẳng đáng là bao.

Từ lúc bắt cá đến lúc ướp lạnh phải theo trình tự nhất định. Cá ngừ đại dương đạt tiêu chuẩn xuất khẩu là thịt cá còn đỏ, bởi vậy khi lên khỏi tàu là phải đưa vào hầm lạnh ngay. Nếu không bao nhiêu mồ hôi công sức chỉ là "công cốc".

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau