frameleft href
frameright
 

Ngành Thủy sản Phú Yên

Phát huy vai trò ngành kinh tế mũi nhọn

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/NQ-TU (khóa VIII) của Tỉnh uỷ Phú Yên về chương trình phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là đẩy mạnh thực hiện các chương trình cụ thể như: chương trình khai thác thuỷ sản xa bờ, chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chương trình phát triển giống thuỷ sản, chương trình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, chương trình biển Đông - hải đảo,... ngành thuỷ sản Phú Yên đã từng bước khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo giữ vững an ninh - quốc phòng vùng biển đảo.

Nghị quyết số 05/NQ-TU đã nhấn mạnh: "Coi nuôi trồng, đánh bắt, chế biến hải sản là ngành kinh tế mũi nhọn,... Xây dựng kinh tế - xã hội vùng biển, ven biển thành vùng phát triển năng động, địa bàn chiến lược vững chắc về kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng; từng bước xây dựng đô thị và nông thôn vùng ven biển, bán đảo có cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân". Quán triệt tinh thần này, ngành thuỷ sản Phú Yên đã đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế địa phương.

Ông Võ Châu - Giám đốc Sở Thủy sản Phú Yên

Khơi nguồn tiềm năng vùng "biển bạc"

Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn: có bờ biển dài trên 189 km, vùng biển khai thác hiệu quả có diện tích khoảng 6.900 km2, trên 2.000 ha diện tích bãi triều, khoảng 14 nghìn ha diện tích mặt nước đầm vịnh, cửa lạch và trên 4.500 ha diện tích mặt nước ngọt tại các hồ thủy lợi, thủy điện, sông ngòi,...

Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên sinh vật biển của Phú Yên rất phong phú, đa dạng, với gần 500 loài cá, 30 loài tôm, 15 loài mực và một số loài hải sản khác thuộc lớp nhuyễn thể, trong đó có hơn 35 loài hải đặc sản có giá trị kinh tế cao. Nguồn tài nguyên biển cũng có trữ lượng rất lớn, mỗi năm cho phép khai thác khoảng 46 nghìn tấn cá, 700 tấn tôm, 1.200 tấn mực,...

Mặt khác, vùng biển và ven biển Phú Yên có nhiều thuận lợi về giao thông đường thủy, đường bộ, đường hàng không và đường sắt. Trong những năm qua, tỉnh Phú Yên đã đầu tư nhằm khôi phục và xây dựng mới hệ thống giao thông từ các làng biển đến thành phố Tuy Hòa như: tuyến vận tải từ Vũng Rô, tuyến Phước Đồng, tuyến Phú Lạc và tuyến làng An Vũ,... tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa, đi lại của nhân dân, cải thiện đời sống của nhân dân vùng biển.

Thêm vào đó, tiềm năng lao động ngư nghiệp của tỉnh Phú Yên rất dồi dào. Năm 2003, toàn tỉnh có trên 16 nghìn hộ gia đình làm kinh tế thủy sản, thu hút gần 40 nghìn lao động. Trong những năm qua, ngành thủy sản Phú Yên đã tổ chức các đợt tập huấn về các chương trình khuyến ngư, khuyến công nhằm nâng cao trình độ cho người lao động trong lĩnh vực thủy sản. Trong hai năm (2002 - 2003), ngành đã tổ chức 69 lớp tập huấn, 18 cuộc hội thảo về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, thu hút 9.105 lượt người tham dự. Đồng thời, ngành còn tiến hành mở 10 lớp học, qua đó cấp bằng và giấy chứng nhận về các lĩnh vực: khai thác cá ngừ đại dương, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tôm giống,... cho 683 người. Các hoạt động của ngành đã góp phần quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao kiến thức và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên thủy sản, tạo đà cho ngành thủy sản Phú Yên có những bước phát triển mạnh mẽ.

Phát triển đồng đều ba chương trình: khai thác, nuôi trồng và chế biến

Trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, Sở Thủy sản Phú Yên đã phát huy vai trò cơ quan quản lý ngành trong việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 05/NQ-TU của Tỉnh ủy Phú Yên. Trong những năm qua, ngành thủy sản Phú Yên đã tập trung nhiều nguồn lực, thu hút và phát huy tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, khai thác và sử dụng tiềm năng mặt nước, nguồn lợi để phát triển đồng đều cả ba lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản.

Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh, nhận thức được những khó khăn của ngành mà trước hết là phương tiện đánh bắt lạc hậu, chủ yếu là khai thác gần bờ, khiến hiệu quả kinh tế thấp, mặt khác làm cho nguồn lợi thủy sản bị suy kiệt, ngành thủy sản Phú Yên đã chú trọng đầu tư, nâng cấp phương tiện tàu thuyền, đặc biệt là những tàu có công suất lớn để triển khai hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ. Trong 3 năm 2002 - 2004, toàn ngành đã thực hiện đóng mới trên 420 tàu thuyền có công suất trên 70 CV. Từ chỗ chưa có tàu trên 45 CV (năm 1989), đến năm 2004, toàn tỉnh đã có 1.700 tàu gắn máy công suất 45 - 300 CV.

Phú Yên luôn dẫn đầu cả nước về sản lượng khai thác cá ngừ đại dương

Nhờ chú trọng đầu tư phương tiện đánh bắt, trong những năm qua, sản lượng khai thác thuỷ sản tăng bình quân 9,79%/năm. Riêng năm 2004, sản lượng khai thác thủy sản toàn tỉnh đạt 33,9 nghìn tấn, tăng 7,4% so với năm 2003. Trong đó, sản lượng và giá trị sản xuất tăng chủ yếu từ sản phẩm khai thác xa bờ, đặc biệt là đánh bắt cá ngừ đại dương (năm 2004 đạt 4.150 tấn, gấp 2,5 lần năm 2002).

Bên cạnh đó, nghề nuôi trồng thủy sản cũng phát triển mạnh. Trong những năm qua, ngành thủy sản Phú Yên đã triển khai việc nuôi trồng thủy sản một cách hiệu quả nhằm xây dựng những vùng nguyên liệu ổn định, sản lượng cao cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản. Nổi bật là việc thực hiện đầu tư dự án 224 xã Xuân Phương (huyện Sông Cầu) và dự án vùng hạ lưu sông Bàn Thạch với tổng kinh phí trên 8,6 tỷ đồng. Ngoài ra, ngành còn tiến hành chuyển đổi 400 ha diện tích trồng lúa có năng suất thấp sang nuôi tôm để tạo thành vùng nuôi tôm với diện tích trên 1.100 ha. Đồng thời, ngành còn đầu tư xây dựng vùng sản xuất tôm giống ở Bình Kiến với sản lượng 500 triệu con/năm, chỉ đạo quy hoạch vùng sản xuất tôm giống Hòa Hiệp Trung, khu sản xuất giống sạch bệnh ở Xuân Hải (Sông Cầu), An Hòa (Tuy An) với sản lượng 1,5 tỷ tôm giống/năm.

Nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương, trên cơ sở triển khai các dự án về nuôi trồng thủy hải sản, trong những năm qua, lĩnh vực nuôi trồng thủy hải sản đã đạt được những kết quả quan trọng. Đến cuối năm 2003, toàn tỉnh có 2.300 ha ao nuôi tôm sú, có thể nuôi từ 1 đến 2 vụ/năm. Phương thức nuôi chuyển dịch mạnh từ nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh sang nuôi thâm canh, nên năng suất và sản lượng tăng đều qua các năm. Năm 2004, sản lượng tôm sú nuôi đạt 2.094 tấn, từ đó kéo theo sự phát triển nghề sản xuất tôm sú giống. Năm 2003, 150 trại giống trên phạm vi toàn tỉnh có khả năng cung cấp 1,2 tỷ tôm giống/năm. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm hùm lồng đã phát triển khá mạnh. Đến năm 2003, toàn tỉnh có 15 nghìn lồng, trong đó có khoảng 11 nghìn lồng nuôi thương phẩm cho sản lượng khoảng 430 tấn/năm. Ngoài ra, ngành còn đẩy mạnh nuôi trồng một số loại thủy đặc sản có triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế như: ghẹ, cá mú, cá chình, ốc hương, tôm thẻ chân trắng, rong sụn,...

Lĩnh vực chế biến thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá trong những năm qua cũng có những bước chuyển biến tích cực. Trong 2 năm 2002 - 2003, 12 doanh nghiệp vừa và nhỏ được ngành đầu tư và đưa vào hoạt động với tổng mức đầu tư khoảng 410 tỷ đồng. Nhờ đó, năm 2004, sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu đạt 1.650 tấn, kim ngạch xuất khẩu 8,5 triệu USD, gấp 2,7 lần năm 2001. Bên cạnh đó, hệ thống bến, cảng cũng từng bước được đầu tư mới và nâng cấp như: bến cá phường 6 (thành phố Tuy Hòa), bến cá Dân Phước (Sông Cầu), bến cá Tiên Châu (Tuy An),... Ngoài ra, các công trình hạ tầng dịch vụ hậu cần như: cấp dầu, cấp nước, nước đá, thu mua, sơ chế thủy sản,... tại các bến cá và hệ thống cơ khí sửa chữa tàu thuyền cũng được ngành đầu tư để phát huy năng lực khai thác, chế biến một cách hiệu quả.

Hồ nuôi tôm ở Đông Tác

Khắc phục khó khăn bằng giải pháp đồng bộ

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những khó khăn đòi hỏi ngành phải có biện pháp tháo gỡ kịp thời.

Trước hết là nguồn vốn, xuất phát từ điều kiện kinh tế của tỉnh, nguồn vốn ngân sách, vốn doanh nghiệp và tích lũy tiền tệ trong dân cư thấp, do đó nội lực đầu tư cho phát triển còn nhiều hạn chế. Thực tế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đầu tư cơ sở hạ tầng nghề cá, đầu tư công nghệ đánh bắt và nuôi trồng, chế biến thủy sản.

Bên cạnh đó, hiệu quả khai thác tài nguyên và nguồn lợi thủy sản vẫn còn ở mức thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao. Hiện tại, vùng khai thác ven bờ là ngư trường hoạt động của 80% tàu thuyền công suất nhỏ (dưới 45 CV), do cường độ khai thác lớn đã làm suy kiệt nguồn lợi thủy sản. Trong khi đó, do vấn đề mùa vụ, ngư trường chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ nên hiệu quả khai thác xa bờ còn thấp. Ngoài ra, các khu trú đậu, tránh bão tại ngư trường ngoài khơi cho tàu đánh cá chưa được đầu tư, nên các hoạt động khai thác xa bờ chưa bảo đảm an toàn,...

Khắc phục khó khăn, huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy sự tăng trưởng toàn ngành, hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, đang là những nhiệm vụ trọng tâm của ngành thủy sản Phú Yên. Cùng với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong tỉnh, ngành đang nỗ lực tìm những hướng đi mới đem lại hiệu quả cao.

Trước hết, trong giai đoạn tới, ngành tiếp tục phát huy và huy động tiềm lực vốn, công nghệ, lao động từ các thành phần kinh tế và tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm tập trung nguồn lực phát triển nghề cá. Tiến hành quy hoạch, quy hoạch lại và đầu tư theo quy hoạch để đẩy mạnh sự phát triển và tính bền vững của nghề cá. Sắp xếp lại nghề cá theo hướng giảm mạnh khai thác gần bờ, tăng cường khai thác xa bờ, kết hợp với bảo vệ vùng biển và lãnh thổ. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia chương trình khai thác biển Đông, phát huy năng lực của đội tàu có công suất trên 90CV để khai thác xa bờ và khai thác dài ngày trên biển.

Năm 2004, sản lượng thuỷ sản chế biến xuất khẩu của Phú Yên đạt 1.650 tấn

Tích cực đầu tư xây dựng và tăng cường năng lực dịch vụ hậu cần, khoa học - kỹ thuật cho ngành thủy sản; khuyến khích các thành phần kinh tế thành lập các tàu dịch vụ hậu cần, dịch vụ vật tư, thu mua sản phẩm; tổ chức hệ thống thông tin liên lạc vô tuyến điện phục vụ cho chỉ huy khai thác, cứu nạn, cứu hộ bảo đảm cả trên biển và đất liền.

Trên cơ sở phối kết hợp của các ngành, các cấp, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực chế biến thủy sản với trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, để tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu; đồng thời khuyến khích phát triển nghề chế biến thủy sản truyền thống trong nhân dân, gắn với công nghiệp hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng lĩnh vực bảo quản sau thu hoạch, qua đó làm cơ sở để ngành xây dựng các làng nghề truyền thống chế biến thuỷ, hải sản.

Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, ngành đang tích cực đầu tư để hoàn chỉnh trung tâm giống và kỹ thuật thủy sản; tiếp tục củng cố các hợp tác xã, tổ hợp tác nghề cá, kết hợp với hình thành các hình thức hợp tác thích hợp trong đánh bắt, nuôi trồng, dịch vụ trên cơ sở đảm bảo tính công bằng, dân chủ, tự nguyện và cùng có lợi.

Phát huy những lợi thế do thiên nhiên ưu đãi ban tặng, huy động hiệu quả mọi nguồn lực, ngành thuỷ sản Phú Yên đã khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo tại địa phương. Bằng việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục triệt để những khó khăn, hạn chế, ngành thuỷ sản Phú Yên sẽ vươn lên mạnh mẽ, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Sở Thủy sản Phú Yên

Địa chỉ: số 80 Lê Duẩn - thành phố Tuy Hòa - Phú Yên

Điện thoại: 057.843440

Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu cụ thể

Chỉ tiêu

Đơn vị

2001

2002

2003

2004

1. Khai thác thủy sản

Tấn

28.100

30.000

31.565

33.900

2. Nuôi trồng thủy sản

- Trong đó: tôm sú

"

"

3.000

2.770

3.030

2.700

3.493

2.847

3.826

2.094

3. Chế biến xuất khẩu

"

840

1.200

1.400

1.650

4. Giá trị chế biến xuất khẩu

Triệu USD

3,10

5,0

7,0

8,5

5. Giá trị xuất khẩu (giá cố định 1994)

Triệu đồng

389.850

443.260

513.787

550.400

Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010

Chỉ tiêu đề ra

Đơn vị

2010

Tăng trưởng bình quân (%/năm)

Giá trị sản xuất

Tỷ đồng

1.000

8,43

Tổng sản lượng:

- Sản lượng khai thác

- Sản lượng nuôi trồng

1.000 tấn

"

"

42

34

8

3,07

1,66

11,67

Sản lượng chế biến xuất khẩu

Tấn

7.500

24,52

Kim ngạch xuất khẩu

Triệu USD

30 - 35

25,85

Nguồn: Sở Thủy sản Phú Yên

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau