frameleft href
frameright
 

Cổ tích về những "đại gia chăn bò"

ở Phú Yên, trong những câu chuyện lúc "trà dư, tửu hậu", người ta thường hay nhắc tới những "đại gia" làm giàu từ chăn nuôi bò. Đối với những nơi dân cư đông đúc, bán buôn sầm uất, chuyện những ông chủ có trong tay hàng tỷ đồng thì chẳng có gì lạ. Nhưng những "đại gia" này lại gắn với miền đất còn rất nghèo nàn, hoang sơ: huyện miền núi Sông Hinh. Thật khó có thể hình dung nổi tiềm năng về chăn nuôi bò của miền sơn cước nếu không đặt chân đến đây. Trong các câu chuyện của lãnh đạo huyện, của người dân về phát triển kinh tế không thể vắng bóng dáng con bò.

Tiếng lành đồn xa, chúng tôi đến xã Ea Bar để tìm gặp các "đại gia chăn bò". Con đường đất vừa đủ cho một làn ôtô, còn gập ghềnh những ổ gà, ổ voi, đưa chúng tôi lên trang trại của ông Cao Nguyên Lâm. Trên những khoảng đồi cỏ cây lúp xúp, ở đâu cũng thấy bò. Vùng đất này đang bớt cằn khô nhờ những đàn bò.

Hành trình đến với đồng đất

Tiếp chúng tôi trong căn nhà sàn còn tuềnh toàng, chỉ có vài vật dụng đơn sơ, gia tài đáng để ý nhất là chiếc tivi đen - trắng vỏ đỏ mà người miền xuôi đã quẳng nó đi từ "tám hoánh", ông Cao Nguyên Lâm cười bảo: "Các anh thông cảm, uống tạm chén nước rồi ta đi thăm vườn. Tiền của còn quẳng ngoài ấy cả đấy". Đi thăm trang trại của ông, ngắm những chú bò lai mũm mĩm, mới biết thiên hạ bảo ông là triệu phú quả không sai.

Ông lên lập nghiệp ở vùng sơn cước này từ năm 1989. Trước đó, ông vốn là kế toán của Hợp tác xã mua bán xã Xuân Phước (huyện Đồng Xuân - Phú Yên). Từ khi đất nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, hợp tác xã mua bán cũng bị giải thể. "Từ anh công chức trở thành thất nghiệp" - ông cười - "quen ngồi chơi xơi nước giờ thì bổ nháo bổ nhào mà làm ăn". Mới đầu ông làm đủ nghề, từ bán buôn ở chợ, xay đá, xay bột thuê,... cuối cùng là sắm máy cày đi cày mướn. Có lẽ thời gian này đã tạo cho ông cơ hội nghiên cứu kỹ về đồng đất nơi đây.

Năm 1989, ông được chính quyền cấp cho 8 ha đất để khai hoang tại xã Ea Bar. Mới đầu chỉ trồng được cây ngắn ngày, thu nhập chẳng đáng là bao, vì thế ông tập trung vào cải tạo đất. "Mình vốn xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp, thấy đất là mê liền. Bà xã thương chồng, lọ mọ rời quê lên đây rồi cũng bị đất hớp hồn luôn". Ông kể tiếp: "Mình còn nhớ như in vụ cà phê rớt giá năm 1995 - 1996. Những năm trước đó, người ta trồng cà phê để làm giàu. Vợ chồng mình cũng trồng khoảng 3 ha. Ai ngờ vừa đến kỳ thu hoạch thì cà phê điêu đứng, nhiều chủ vườn vỡ nợ, phải bán đất bỏ vườn đi làm chỗ khác. Nhưng người không phụ đất, thì đất chẳng phụ người. Như anh thấy", ông chỉ về những hàng cây bạt ngàn: "từ đất mà ra cả đấy".

Miền sơn cước Phú Yên đã bớt cằn khô nhờ những đàn bò

Bước đột phá từ con bò

Ông Lâm chỉ tay về phía đàn bò, "Mình trụ được ở đây cũng là nhờ nuôi bò". Trước đây, khi mới nhận đất khai hoang, ông cũng đã đầu tư nuôi 25 con bò, nhưng là giống bò vàng nuôi để lấy phân cải tạo đất là chính.

Thế rồi, huyện Sông Hinh có chủ trương phát triển chăn nuôi bò, coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Vấn đề then chốt đặt ra là phải cải tạo đàn bò theo hướng sind hóa. Năm 1994, gia đình ông được cấp một con bò đực lai, từ đó công cuộc cải tạo đàn bò bắt đầu được thực hiện. Đàn bò của ông ngày càng phát triển, đến năm 2003, ông đã có 130 con bò giống, tỷ lệ sind hóa trên 90%. Riêng tiền bán bê đực đem lại gần 100 triệu đồng/năm.

Nguồn phân bò được ông tận dụng để cải tạo đất. Hàng năm, ông tiến hành trồng xen ngô lai, sắn, dưa lấy hạt,... với những loại cây lâu năm. Chỉ tính riêng tiền thu hoạch từ những loại cây này, mỗi năm, ông đã có trong tay hàng trăm triệu đồng.

Tiền thu được từ bán bò và cây hàng năm ông tiến hành tái đầu tư, mở rộng diện tích. Năm 2004, ông đã mở rộng trang trại lên tới 26 ha. Trang trại của ông được quy hoạch hai loại cây chiến lược là cao su và xà cừ, chỉ giữ lại diện tích nhỏ để trồng cà phê. Vườn cây cao su 3 năm tuổi, xà cừ trên 1 năm, mọc đều và xanh tốt, chứng tỏ loại cây này rất phù hợp với chất đất. Ông bảo: "Sắp tới mình sẽ tiến hành đầu tư thêm, mở rộng diện tích để trồng hai loại cây này".

Những vườn cây và chuồng trại của ông được quy hoạch một cách hệ thống, khoa học. Ông kể, thời gian đầu mới bắt tay vào làm còn rất bỡ ngỡ, song được Uỷ ban nhân dân huyện hỗ trợ về vốn và kỹ thuật nên việc triển khai rất thuận lợi. Ông Lương Ngọc Hải - cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Sông Hinh - cho biết: "Hàng năm, chúng tôi tổ chức nhiều đợt tập huấn kỹ thuật cho nhân dân về trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài ra, công tác phối giống và phòng bệnh cho đàn bò trên địa bàn huyện cũng được tiến hành thường xuyên và rất có hiệu quả. Hiện nay, bà con đã biết áp dụng các phương pháp thâm canh hiện đại, khoa học để phát triển cây trồng và vật nuôi".

Có thể nói, các chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò của huyện Sông Hinh đã đạt được những bước tiến quan trọng. Nếu năm 1994 tỷ lệ sind hóa đàn bò của huyện chỉ đạt 1 - 2%, thì đến năm 2003 trong tổng số 34 nghìn con bò toàn huyện, tỷ lệ sind hoá đạt trên 20%. Ông Trần Hoa - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Sông Hinh - cho biết: "Trong giai đoạn hiện nay, một trong những hướng đi quan trọng của Sông Hinh nhằm đẩy mạnh phát triển đàn bò là việc xây dựng các mô hình chăn nuôi bò tập trung. Hình thức này sẽ huy động nguồn vốn rất lớn từ nhân dân để mở rộng quy mô của đàn bò. Đồng thời, huyện tiếp tục khuyến khích các mô hình trang trại theo hướng nông - lâm kết hợp, coi đây là giải pháp quan trọng để Sông Hinh đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế hướng tới mục tiêu xóa đói, giảm nghèo".

Trang trại của ông Cao Nguyên Lâm chỉ là một trong số hàng chục trang trại ở xã Ea Bar. Mô hình này đang được triển khai trên khắp địa bàn huyện, xã ít nhất cũng có hai trang trại (xã Đức Bình Tây), xã nhiều nhất lên tới hàng trăm trang trại (xã Ea Ly có 125 trang trại). Tính đến cuối năm 2003, huyện Sông Hinh vẫn còn trên 24 ngàn ha đất trống, đồi trọc chưa sử dụng, đây là cơ sở quan trọng để huyện tiếp tục triển khai mô hình trang trại này.

Ông Lâm còn cho biết thêm: hàng năm trang trại của ông tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động. Đến vụ, ông còn thuê thêm hàng chục lao động khác. Thu nhập của người lao động bình quân đạt 600 - 700 nghìn đồng/người/tháng. Để tạo điều kiện cho những lao động đưa cả gia đình lên lập nghiệp, mới đầu ông tạm ứng 4 - 5 triệu đồng để họ ổn định chỗ ở, đồng thời tạo cơ hội cho họ làm ăn bằng cách trả công bằng bê con nhưng vẫn cho ở trong đàn. Người lao động không phải làm chuồng trại mà vẫn nuôi được bò. Nhờ cách làm đó, có người lao động sau 4 - 5 năm đã có 15 con bò.

Rời trang trại của ông Lâm, tôi chợt nhớ đến câu chuyện cổ tích về một người nông dân có con bò biết đẻ ra vàng. Lên Sông Hinh mới thấy điều đó không chỉ có trong truyện cổ tích. Cổ tích thời hiện đại đang được viết lên bằng lòng say mê đồng đất, bằng chí hướng quyết tâm làm giàu của những đại gia chăn bò, mà ông Lâm chỉ là một trong những điển hình tiêu biểu,Ặ đưa mảnh đất Sông Hinh chuyển mình với sức sống mới.

Đến tháng 6-2004, huyện Sông Hinh đã hình thành 87 trang trại chăn nuôi bò tập trung, với số lượng trên 40 con/trang trại. Toàn huyện có 405 trang trại theo mô hình nông - lâm hết hợp, trong đó tập trung vào mục tiêu chính là phát triển và nâng cao chất lượng đàn bò. Đây là tiền đề quan trọng để Sông Hinh thực hiện thành công mục tiêu duy trì đàn bò với số lượng 40 nghìn con, tỷ lệ sind hóa đạt 50% vào cuối năm 2005.

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau