frameleft href
frameright
 

Nông nghiệp Phú Yên

Hướng tới sự phát triển bền vững

Trong 15 năm qua (1989 - 2004), ngành nông nghiệp Phú Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng. Sản xuất nông - lâm nghiệp có bước tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có những chuyển biến tích cực hướng theo nhu cầu thị trường, từng bước tiếp cận với phương thức sản xuất hàng hóa và đảm bảo an ninh lương thực.

Sau khi tái lập tỉnh (ngày 1-7-1989), đứng trước thực trạng kinh tế - xã hội gặp rất nhiều khó khăn, tỉnh Phú Yên đã xác định lấy kinh tế nông - lâm nghiệp làm bàn đạp nhằm ổn định đời sống nhân dân, tạo đà quan trọng cho bước đi tiếp theo trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Quán triệt các chủ trương, chính sách của Trung ương về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo tỉnh Phú Yên, trong những năm qua, ngành nông nghiệp Phú Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng. Diện mạo nông nghiệp, nông thôn Phú Yên đang bừng lên sắc thái mới.

Tận dụng những lợi thế, tiềm năng sẵn có

Phú Yên có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp. Diện tích đất có thể sử dụng cho sản xuất nông - lâm nghiệp gần 291 nghìn ha, bao gồm: vùng đồng bằng, vùng ven biển, vùng đồi núi. Trong đó, đồng bằng Tuy Hòa có diện tích rộng lớn nhất các tỉnh duyên hải miền Trung; diện tích đất bãi ven sông, đất đỏ vàng, đất vùng đồng trũng tương đối lớn; đất đai có độ phì nhiêu cao, do được bồi đắp bởi phù sa của các con sông. Cơ cấu đất đai có sự đan xen, giao thoa giữa đồng bằng và núi. Bên cạnh những đồng bằng trải rộng, thuận lợi cho việc hình thành những cánh đồng lúa có diện tích lớn là diện tích đất ven núi phù hợp cho sự phát triển các loại cây công nghiệp và chăn nuôi. Những điều kiện thuận lợi nêu trên mở ra triển vọng to lớn cho sự phát triển toàn diện của kinh tế nông nghiệp Phú Yên.

Hội nghị đầu bờ của ngành nông nghiệp Phú Yên

Ngoài các yếu tố "thiên thời, địa lợi", nguồn lao động nông nghiệp dồi dào cũng là ưu điểm của ngành nông nghiệp Phú Yên. Đến năm 2004, toàn tỉnh có 366.385 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, một số bộ phận lao động nông nghiệp đã được đào tạo, hướng dẫn các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất, đáp ứng các yêu cầu thâm canh, chuyên canh hoá ngày càng cao.

Tận dụng lợi thế đó, ngành nông nghiệp Phú Yên đã đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng toàn diện. Trong đó, để nâng cao hiệu quả công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Phú Yên chú trọng lựa chọn những cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng nhiều biện pháp thâm canh tiến bộ, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác. Bên cạnh đó, tỉnh cũng quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi. Chương trình kiên cố hóa kênh mương đã được ngành triển khai từ năm 2000, đến hết năm 2004 đã thực hiện được 203,5 km. Ngoài đầu tư xây mới, ngành đã phát huy tối đa công suất sử dụng của các công trình đã có nhằm đảm bảo công tác tưới tiêu trên địa bàn. Do quan tâm đúng mức đến công tác thuỷ lợi, năm 2004, toàn tỉnh có 53,5/112 nghìn ha diện tích gieo trồng cây hàng năm được tưới. Trong đó, diện tích lúa được tưới tiêu là 49.700 ha, chiếm 86% diện tích lúa. Đến năm 2004, hệ thống thuỷ lợi của tỉnh Phú Yên có khả năng chủ động nước tưới cho 2 vụ chính (vụ đông xuân và hè thu), đảm bảo sản lượng lương thực tăng đều qua các năm, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong phạm vi toàn tỉnh.

Thành tựu nổi bật trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Những yếu tố thuận lợi và nỗ lực của những người làm công tác nông nghiệp tại địa phương đã mang lại kết quả đáng phấn khởi.

Về trồng trọt, ngành đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và hướng theo nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, ngành đã tập trung phát triển mở rộng quy mô, diện tích một số cây trồng chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhờ đó, đến năm 2005, diện tích cây lương thực có hạt trên phạm vi toàn tỉnh ước đạt 64.200 ha, tăng trên 4 nghìn ha so với năm 1990. Trong đó, diện tích trồng lúa nước tăng chủ yếu ở các khu vực miền núi, góp phần ổn định lương thực tại chỗ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, diện tích trồng ngô năm 2005 ước đạt 6.200 ha, tăng 2.900 ha so với năm 1990, năng suất bình quân đạt khoảng 20 tạ/ha, tăng 13,6 tạ/ha so với năm 1990.

Do nhu cầu về nguồn nguyên liệu của các nhà máy chế biến trong tỉnh ngày càng tăng, nên diện tích và năng suất của hầu hết các cây công nghiệp đều tăng cao, trong đó có một số cây chủ lực là mía, sắn, vừng, điều, bông vải.

Về chăn nuôi, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Phú Yên đã có những bước tăng trưởng ổn định. Đến ngày 1-8-2005, đàn trâu, bò của tỉnh có 204.358 con, tăng 35%, trong đó tỷ lệ bò lai sind chiếm 34,3% tổng đàn bò; đàn heo (lợn) có 196.961 con, tăng 35,6% và gần 1,9 triệu con gia cầm các loại, tăng 86,4% so với năm 1990. Có được những bước tiến trong lĩnh vực chăn nuôi là nhờ Phú Yên đã chủ động trong công tác thú y, coi trọng chất lượng giống vật nuôi, nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập. Để đảm bảo sự phát triển ổn định cho đàn gia súc, gia cầm, tỉnh Phú Yên đã khuyến khích người dân sử dụng thức ăn công nghiệp và phát triển trồng cỏ cao sản, chủ động tạo nguồn thức ăn cho trâu, bò.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhờ triển khai hiệu quả công tác giao đất, cho thuê đất, toàn tỉnh đã thực hiện giao 222.913 ha, chiếm 44% diện tích đất lâm nghiệp. Trong đó, đến cuối năm 2004, tỉnh đã thực hiện cấp chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 177.323 ha, trong đó 79.729 ha cho 9 đơn vị, tổ chức và 97.593 ha cho 14.015 hộ gia đình, cá nhân. Ngoài ra, tỉnh còn tiến hành giao khoán bảo vệ 32.550 ha rừng theo mức hưởng lợi 50 nghìn đồng/ha/năm. Nhìn chung, công tác bảo vệ rừng tại Phú Yên được quản lý chặt chẽ hơn so với những năm trước đây, đặc biệt là công tác bảo vệ 142.688 ha rừng tự nhiên với trữ lượng dự báo 14,07 triệu m3 gỗ.

Để nâng cao hiệu quả của công tác phát triển rừng, tỉnh Phú Yên đã thu hút nhiều dự án như: PAM 4304, 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ, dự án trồng rừng trên đất cát ven biển (PACSA), dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn (JBIC), dự án khu vực lâm nghiệp (ADB1),... Bên cạnh đó, tỉnh còn đẩy nhanh tốc độ trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thông qua các nguồn vốn khác nhau. Không những thế, bằng việc sử dụng các loại cây trồng thích hợp như: dầu rái, xà cừ, keo, phi lao, điều, chai lá cong, bạch đàn,... chất lượng rừng trồng của Phú Yên được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt, việc sử dụng giống cây lâm nghiệp vô tính đã góp phần nâng cao tỷ lệ thành rừng và năng suất sinh khối, nâng độ che phủ của rừng lên mức 37,2%.

Những khó khăn và định hướng phát triển

Sau 15 năm kể từ ngày tái lập tỉnh, ngành nông nghiệp Phú Yên đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, những thách thức về diễn biến bất thường của thời tiết, vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, nhiều mặt hàng nông sản ngày càng đòi hỏi chất lượng cao, giá thành thấp,... đòi hỏi ngành nông nghiệp Phú Yên phải nỗ lực hơn nữa nhằm tạo nên bước phát triển nhanh và ổn định. Muốn vậy, trong thời gian tới, ngành nông nghiệp Phú Yên cần khắc phục được những hạn chế sau:

Một là, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa hướng vào thị trường và hiệu quả kinh tế. Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn còn là vấn đề mới mẻ, chịu ảnh hưởng nặng nề vào thời tiết, giá cả, thị trường tiêu thụ nông sản. Trong lĩnh vực trồng trọt, Phú Yên chưa mạnh dạn tập trung dồn điền, đổi thửa, tạo thuận lợi trong công tác cơ giới hóa sản xuất, còn chậm ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất. Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi tăng trưởng chậm. Việc triển khai chương trình nuôi bò sữa còn lúng túng, chưa thực sự kiểm soát được dịch bệnh gia súc, gia cầm. Diện tích rừng trồng vì mục đích kinh tế còn thấp, chưa thu hút được các nhà đầu tư tham gia kinh doanh rừng trồng. Các nguồn lợi trong sản xuất nông - lâm nghiệp chưa được khai thác hiệu quả.

Hai là, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa còn thấp. Trong đó, một số cây trồng, vật nuôi bước đầu được gắn với công nghiệp chế biến, nhưng do kết cấu hạ tầng yếu kém khiến chi phí cao dẫn đến giá thành cao, nên thu nhập của người dân chưa cao.

Ba là, trong quan hệ sản xuất, vai trò của các doanh nghiệp chế biến nông sản, 2 lâm trường, 6 ban quản lý rừng phòng hộ, 114 hợp tác xã nông nghiệp chưa thực sự đủ sức đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt, thu hút kinh tế hộ gia đình trên địa bàn nông thôn sản xuất theo hướng hàng hoá, liên kết các khâu tác nghiệp trước, trong và sau sản xuất của hàng vạn hộ nông dân đang sản xuất với quy mô nhỏ lẻ,...

Để khắc phục những khó khăn, đồng thời phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững, ngành nông nghiệp Phú Yên đã đề ra một số giải pháp quan trọng sau:

1) Tiếp tục coi trọng sản xuất cây lương thực có hạt, phấn đấu đạt trên 290 nghìn tấn/năm. Trong đó có 40 - 50 nghìn tấn lúa có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực, tăng thu nhập cho nông dân.

2) Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, xác định và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, phù hợp tiềm năng và lợi thế; chú trọng các khâu thâm canh, tăng năng suất, sử dụng giống mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến và phòng trừ sâu bệnh, dịch hại. Trong sản xuất, ngành cần tập trung vào một số cây trồng đã có nhà máy chế biến và tiêu thụ ổn định như: mía, sắn, bông vải, điều,... phát triển sản xuất rau an toàn, hoa, cây cảnh, phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao tại địa phương và một số tỉnh lân cận.

3) Phát triển đàn bò với mức tăng bình quân 1 - 2%/năm, trong đó tỷ lệ bò lai sind đạt 50% tổng đàn vào năm 2010; đàn lợn tăng bình quân 2 - 3%/năm; gia cầm tăng bình quân 1 - 2%/năm. Phấn đấu tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nhân rộng mô hình chăn nuôi thâm canh gắn liền với trồng cỏ cao sản và sử dụng nhiều thức ăn tinh.

4) Phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng nâng cao năng lực phòng hộ và hiệu quả kinh tế, phấn đấu nâng độ che phủ rừng đạt trên 42% vào năm 2010; tập trung thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ; xây dựng chính sách đặc thù của tỉnh để khuyến khích đầu tư trồng rừng kinh tế, hình thành các khu rừng sản xuất tập trung gắn với chế biến nguyên liệu từ rừng.

5) Tiếp tục triển khai chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trong đó phấn đấu đưa tỷ lệ cấp nước sinh hoạt lên 50% (năm 2005) và 70% (năm 2010). Phát triển công tác thủy lợi theo hướng hiệu quả, chủ động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai.

6) Khuyến khích nông dân, khối dân doanh, doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất, trong đó chú ý nâng cao tỷ lệ sử dụng cơ giới hóa trong các khâu sản xuất nông nghiệp, bảo quản, chế biến sau thu hoạch, tưới tiêu khoa học.

Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức, song với nội lực và sự năng động, nhạy bén, các cán bộ quản lý ngành nông nghiệp Phú Yên cùng với người nông dân đang "chung sức, đồng lòng" phấn đấu để ngành nông nghiệp Phú Yên có bước chuyển biến mới, tiến tới nền nông nghiệp hiện đại, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội địa phương.

Mục tiêu phát triển đến năm 2010

- Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nông - lâm nghiệp trên 2,0%/năm.

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: trồng trọt (56%) - chăn nuôi (44%).

- Thu nhập bình quân của hộ nông dân đạt trên 16 triệu đồng/hộ/năm.

- Phấn đấu trên 70% diện tích của 99 xã có giá trị sản xuất nông nghiệp đạt và vượt giá trị 50 triệu đồng/ha/năm.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên

Địa chỉ: số 64 Lê Duẩn - thành phố Tuy Hòa - Phú Yên

Điện thoại: 057.842585

Thống kê thực trạng một số loại cây trồng

Loại cây trồng

1990

Ước 2005

Tăng so với năm 1990

Diện tích

(ha)

Diện tích

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Năng suất

(tấn/ha)

Cây mía

4.050

29,5

18.500

45

14.450

10,5

Cây sắn

4.532

10,6

10.500

17

5.968

6,4

Cây vừng

992

1.169

5.500

4

4.508

0,6

Cây cao su

0

0

1.461

Chưa khai thác

1.461

 

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau