frameleft href
frameright
 

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên

Đi lên cùng sự khởi sắc của kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Đến năm 2004, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên đã đạt được những bước tăng trưởng khá: nguồn vốn huy động tăng 88 lần, dư nợ tín dụng tăng 46 lần so với ngày đầu thành lập. Song, phải đặt những bước tiến ấy trong bối cảnh của một tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, thiên tai xảy ra liên tiếp thì mới thấy được những nỗ lực của tập thể cán bộ, nhân viên và ý nghĩa to lớn của những dự án, chương trình có sự tham gia đầu tư vốn của chi nhánh đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Phú Yên, nhất là sự khởi sắc của kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua.

Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên được thành lập ngày 1-7-1989 trong bối cảnh khó khăn chồng chất: tỉnh mới được chia tách, còn nhiều bỡ ngỡ trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang cơ chế quản lý kinh tế mới, nhiều đơn vị trên địa bàn sản xuất - kinh doanh đình đốn. Tổng nguồn vốn tại thời điểm nhận bàn giao là 7,612 tỷ đồng, tổng dư nợ 6,167 tỷ đồng, trong đó hơn 90% là dư nợ cho vay các đơn vị quốc doanh thuộc cấp huyện quản lý, nhưng phần lớn dư nợ đang "đóng băng" (quá hạn). Song, nhờ bám sát sự chỉ đạo của ngành và địa phương, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên đã từng bước khắc phục khó khăn, phát triển vững chắc, đóng góp xứng đáng vào sự lớn mạnh của ngành và kinh tế địa phương.

Lấy nông nghiệp, nông thôn làm địa bàn chiến lược

Để vực dậy hoạt động của đơn vị, ban lãnh đạo ngân hàng đã đưa ra những quyết sách đúng đắn, đồng thời xác định chiến lược kinh doanh phù hợp trong giai đoạn mới. Thứ nhất, chi nhánh tập trung mọi nguồn vốn trong xã hội để tăng cường đầu tư, phục vụ kịp thời, hiệu quả cho phát triển kinh tế, trong đó chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là kinh tế hộ. Thứ hai, cải cách khâu quản lý vốn, đảm bảo tính kỷ cương, nền nếp từ hội sở tỉnh đến chi nhánh huyện với mục tiêu phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Thứ ba, quán triệt nguyên tắc tập trung, thống nhất toàn tỉnh gắn với nguyên tắc mở rộng quyền tự chủ cho các chi nhánh huyện trên mọi lĩnh vực hoạt động.

Ông Nguyễn Ninh - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên

Để nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn, ngoài việc áp dụng cơ chế lãi suất linh hoạt, chi nhánh còn đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục cho cán bộ, nhân viên về ý thức, kỹ năng, trách nhiệm trong công tác này, trước hết là đối với cán bộ tín dụng, từ lâu vẫn chỉ biết cho vay và đội ngũ thanh toán viên trong các giao dịch tiền gửi, kiểm ngân viên trong thu nhận tiền gửi. Việc ban hành Văn bản số 129/NHNo-PY ngày 30-5-2002 quy định về chi hoa hồng huy động và hướng dẫn huy động qua tổ vay vốn đã đánh dấu bước chuyển về chất trong tư tưởng chỉ đạo của chi nhánh về công tác huy động. Nhờ đó, tổng lượng vốn huy động năm 2003 đạt 733.929 triệu đồng, gấp 88 lần năm 1989. Trong đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng khá qua từng năm, năm 2003 đạt mức 314 tỷ đồng, gấp 157 lần năm 1989, chiếm 42,8% tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng đều qua các năm, năm 2003 đạt 228 tỷ đồng, gấp 57 lần năm 1989, chiếm gần 50% tổng lượng huy động dân cư của các ngân hàng thương mại trên địa bàn.

Từ năm 1991, thực hiện phương châm "Đi vay để cho vay", chi nhánh đã tiến hành chuyển đổi cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu đầu tư, mở rộng tín dụng đến các thành phần kinh tế, lấy hiệu quả kinh doanh làm thước đo trong hoạt động. Đối với khu vực kinh tế quốc doanh, chi nhánh chuyển hướng đầu tư vào các doanh nghiệp đã được tổ chức lại, ưu tiên những doanh nghiệp trọng điểm, quy mô lớn, kinh doanh có lãi, điển hình như: Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Phú Yên, Công ty vật tư tổng hợp Phú Yên,... Đồng thời, chi nhánh còn mở rộng tín dụng đến các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là cho vay hộ sản xuất ở nông thôn, giải quyết việc làm cho người lao động. Năm 2003, dư nợ cho vay kinh tế hộ đạt 730 tỷ đồng, gấp 777 lần năm 1989, với 81.083 hộ có dư nợ vay, gấp 141 lần.

Đánh giá về hiệu quả của hoạt động cho vay kinh tế hộ, Ông Nguyễn Ninh - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên - cho biết: "Với một tỉnh nghèo như Phú Yên, cho vay hộ sản xuất đã đáp ứng yêu cầu vốn cho phát triển sản xuất - kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu vật nuôi, cây trồng, phát triển mạnh mẽ các ngành nghề truyền thống, hình thành các vùng chuyên canh mía, cà phê, thuốc lá, nuôi tôm, nuôi bò, làm thay đổi diện mạo nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống cho nhân dân trên địa bàn. Cho vay hộ sản xuất đã mở ra triển vọng mới đối với hệ thống ngân hàng nông nghiệp, nhất là các ngân hàng huyện". Với nguồn vốn vay của chi nhánh, Phú Yên đã xuất hiện nhiều hộ điển hình sản xuất - kinh doanh giỏi và nhiều mô hình làm ăn có hiệu quả kinh tế cao.

Bắt đầu được triển khai từ năm 1991, hoạt động kinh doanh đối ngoại và thanh toán quốc tế của chi nhánh ngày càng phát triển về quy mô, chất lượng, phục vụ nhập khẩu phân bón các loại, thu mua nông sản (cà phê, hạt điều,...) xuất khẩu, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh, đồng thời giúp chi nhánh đầu tư khép kín chu trình sản xuất từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, xuất khẩu. Đến năm 2003, chi nhánh đã tài trợ và cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT cho tất cả đơn vị tham gia xuất nhập khẩu trên địa bàn, mở 572 L/C với tổng trị giá 143 triệu USD, cho vay đạt 116 triệu USD. Hoạt động kinh doanh đối ngoại không chỉ tăng doanh thu mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa và hội nhập của chi nhánh.

Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Để theo kịp tiến trình hội nhập kinh tế theo thông lệ quốc tế, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên đã ban hành và cho lưu hành sổ tay tín dụng, coi đó là khung chuẩn cho việc kiểm tra, giám sát tín dụng độc lập, cẩm nang tín dụng chuẩn cho cán bộ tín dụng trong toàn hệ thống. Ông Trần Hữu Định - Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên - cho biết: "Sổ tay tín dụng quy định các chính sách đầu tư tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro và quản lý nợ có vấn đề, thành lập uỷ ban kiểm tra tín dụng độc lập theo cam kết giữa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với WB, IMF. Sổ tay tín dụng đảm bảo cho các hoạt động ngân hàng phát triển theo hướng bài bản, tự chủ hơn, đúng theo thông lệ quốc tế và đem lại hiệu quả cao hơn".

Chi nhánh còn tích cực triển khai chương trình do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ để hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, chuẩn bị kết nối các dữ liệu, thông tin, giao dịch một cửa từ cơ sở đến trung tâm điều hành của hệ thống ngân hàng nông nghiệp; tổ chức triển khai máy rút tiền tự động vào cuối năm 2004; chuẩn bị kết nối thanh toán với khách hàng, cung cấp cho khách hàng chương trình giao dịch từ xa để chủ tài khoản tự kiểm tra hoạt động của tài khoản; triển khai nhiều loại hình dịch vụ hiện đại phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội như: chuyển tiền điện tử, chuyển tiền nhanh Western Union, thanh toán quốc tế, thư tín dụng phục vụ xuất nhập khẩu.

Đối mặt với thách thức

Tuy đạt được những thành công không nhỏ trong các hoạt động nghiệp vụ, từ huy động đến cho vay vốn, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế, song Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể:

Đối với loại hình cho vay doanh nghiệp: nhiều doanh nghiệp nhà nước do kinh doanh thua lỗ, trình độ quản lý yếu kém, thị trường bị thu hẹp, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Hầu hết, các báo cáo tài chính chưa qua kiểm toán, số liệu báo cáo quyết toán thiếu chính xác, khiến công tác đánh giá phân loại khách hàng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc vận dụng các chính sách tín dụng để cho vay đối với doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập, quy mô vốn vừa và nhỏ, thiếu vốn hoạt động, tài chính và dự án, phương án sản xuất - kinh doanh chưa minh bạch, hiệu quả; tài sản thế chấp giá trị thấp, trong khi việc thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai chậm. Do đó, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp còn hạn chế.

Đối với hợp tác xã: mặc dù đã được chuyển đổi theo Luật hợp tác xã, nhưng trình độ quản lý còn yếu kém, hoạt động cung ứng dịch vụ, bao tiêu sản phẩm cho xã viên chưa mở rộng và đa dạng. Do đó, mức độ đầu tư và nhu cầu vay vốn của các hợp tác xã chưa cao.

Đối với kinh tế trang trại: hầu hết các trang trại trên địa bàn tỉnh chưa được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, nên chi nhánh chỉ có thể cho vay chủ yếu với hình thức hộ gia đình làm kinh tế trang trại. Thêm vào đó, kinh tế trang trại chủ yếu là quảng canh, chưa áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, hiệu quả thấp, nên nhu cầu vốn chưa cao.

Đối với hộ sản xuất - kinh doanh: đối tượng khách hàng truyền thống này của chi nhánh thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn mang tính bất khả kháng gắn liền với hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp như thiên tai, dịch bệnh,... Trong những năm gần đây, Chính phủ đã xoá bỏ bao cấp trong khâu khoanh, xóa nợ cho hộ nông dân bị thiên tai, dịch bệnh. Do đó, mức độ rủi ro của ngân hàng rất lớn. Giá cả nông sản thực phẩm không ổn định, Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ giá cho nông dân, nguồn tiêu thụ sản phẩm thiếu vững chắc. Việc bảo hiểm cây trồng, vật nuôi chưa được triển khai dẫn đến tình trạng ngân hàng phải gia - giãn nợ nhiều lần, tỷ lệ nợ xấu khá cao. Thêm nữa, các ngành chức năng thực hiện quá chậm công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ở nông thôn và các thị trấn khiến nhiều hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để tổ chức sản xuất - kinh doanh với quy mô lớn nhưng không có tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng.

Để khắc phục những khó khăn này, bên cạnh việc tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên, đa dạng hóa các dịch vụ, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên rất mong nhận được sự trợ giúp của các cấp uỷ, chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro; thúc đẩy nhanh hơn nữa sự liên kết giữa 4 nhà, đặc biệt là công tác khuyến nông - ngư - lâm nghiệp để hướng dẫn hộ sản xuất trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn vay ngân hàng nhiều hơn khi không có tài sản đảm bảo tiền vay.

Kiên trì bám sát những chuyển động của kinh tế Phú Yên, nhất là kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên đang chủ động tiếp cận những dự án hiệu quả, khả thi, chú trọng đầu tư doanh nghiệp vừa và nhỏ; kinh tế trang trại, hộ sản xuất, trước mắt là tham gia đầu tư công trình thuỷ điện sông Ba Hạ; trung tâm chợ thành phố Tuy Hoà, nâng công suất Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Phú Yên lên 50 triệu lít/năm,... Cùng những dự án ấy, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên sẽ đóng góp tích cực hơn nữa tạo nên diện mạo mới đầy khởi sắc cho kinh tế Phú Yên.

Các mô hình sản xuất - kinh doanh hiệu quả nhờ nguồn vốn vay của chi nhánh

- Mô hình phát triển tàu thuyền công suất lớn đánh bắt cá ngừ đại dương: có trên 20 hộ vay vốn, thu nhập trên 100 triệu đồng/năm, tiêu biểu là hộ gia đình ông Trình Xiệt, Đỗ Năm, Trần Văn Sinh, Trần Văn Liên.

- Phát triển nuôi tôm hùm: tiêu biểu là các hộ gia đình ông Võ Văn Học, Phạm Văn Nghĩa, Lương Thanh Hậu với mức thu nhập trên 300 triệu đồng/năm.

- Mô hình chăn nuôi bò: tiêu biểu là các hộ gia đình ông Trương Quang Trung, Võ Kim Quy trồng cỏ chăn nuôi, mang lại thu nhập cao trên 50 triệu đồng/ha.

- Mô hình sản xuất - kinh doanh dịch vụ tổng hợp phổ biến ở nhiều địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiêu biểu như các ông Lê Văn Hùng, Lê Hồng Đơn, thu nhập trên 100 triệu đồng/năm

- Mô hình nuôi nai lấy nhung (ông Đinh Phước Hưng), trồng hoa cây cảnh (ông Trần Văn Điền): hiệu quả kinh tế cao với mức thu nhập trên 50 triệu đồng/năm/hộ.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên

Địa chỉ: số 77 Nguyễn Du - thành phố Tuy Hoà - Phú Yên

Điện thoại: 057.810010

Kết quả hoạt động kinh doanh (1989 - 2003)

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

1989

2003

Vốn huy động

8.330

733.929

Tổng dư nợ

22.291

1.031.518

- Theo thời hạn

+ Ngắn hạn

+ Trung hạn

 

16.786

5.505

 

529.211

502.307

- Theo thành phần kinh tế

+ Doanh nghiệp nhà nước

+ Dư nợ ngoài quốc doanh

Trong đó: hộ sản xuất

 

18.708

3.583

939

 

244.825

786.693

730.007

Nguồn: Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau