frameleft href
frameright
 

Huyện Tuy An

Phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội

Cách thành phố Tuy Hoà khoảng 30 km về phía bắc, huyện Tuy An là một vùng non nước kỳ thú với nhiều danh lam, thắng cảnh như: đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, Hòn Chùa, Hòn Dứa,... Trên mảnh đất này, nắng gió của biển cả đã tạo nên những con người có khí phách hiên ngang như những hòn đảo giữa trùng khơi. Với tấm lòng hiền hoà, rộng mở và sức sống mãnh liệt chảy qua bao thế hệ như mặt nước đầm Ô Loan kiên trung và bình thản, người dân Tuy An đã và đang nỗ lực để thức tỉnh những vẻ đẹp hoang sơ của tạo hoá, tạo nên bước phát triển mạnh mẽ cho quê hương.

- Diện tích: 399,340 km2

- Dân số: 127.916 người

- Đơn vị hành chính: 15 xã, 01 thị trấn

* Số liệu năm 2005

Là nơi hội tụ đầy đủ cảnh sắc núi - rừng - biển - đồng bằng, cùng với lợi thế về giao thông do tuyến đường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1A đem lại, Tuy An có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế theo hướng đa dạng và toàn diện. Thực tế trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân nơi đây đã không ngừng phấn đấu và đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp

Huyện Tuy An có địa hình đa dạng, bao gồm: đồng bằng, miền núi và vùng biển. Diện tích đất tự nhiên 399,34 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 45%, đất đồi núi chiếm 26,5%, đất lâm nghiệp chiếm 12,6%, còn lại là các loại đất khác. Phát huy những ưu thế về điều kiện tự nhiên và tiềm năng đất đai, Tuy An tập trung phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, nhằm ổn định đời sống nhân dân, tạo bước đệm quan trọng cho phát triển các ngành kinh tế khác.

Xác định thuỷ lợi phải đi trước một bước, trong giai đoạn 2000 - 2005, huyện Tuy An đã đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi với tổng vốn đầu tư 216,97 tỷ đồng, bao gồm nhiều công trình trọng điểm như hệ thống thuỷ nông Tam Giang, kênh mương Phú Vang, công trình hồ chứa nước Đồng Tròn. Hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hoá đã phục vụ hiệu quả cho hàng nghìn ha đất nông nghiệp, góp phần nâng cao diện tích và sản lượng lúa - cây lương thực chủ đạo của huyện. Năm 2005, diện tích lúa nước 3 vụ đạt 6.640 ha, sản lượng lúa đạt 34.679 tấn, năng suất bình quân 52,2 tạ/ha. Riêng năng suất cây lúa nước vụ đông xuân đạt 60 tạ/ha, tăng 4,9 tạ/ha so với năm 2000. Bên cạnh đó, cây mía cũng đóng vai trò khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Tuy An. Năm 2005, toàn huyện có 2.535 ha mía, năng suất đạt 450 tạ/ha, sản lượng đạt 114.075 tấn.

Xuất phát từ đặc điểm địa hình và điều kiện nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, huyện Tuy An đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Theo đó, những diện tích trồng lúa và mía có năng suất thấp sẽ chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác, hoặc tiến hành trồng xen canh gối vụ bằng các loại cây hoa màu như ngô, rau, đậu nhằm tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Đơn cử: nếu năm 2000 toàn huyện có 672 ha trồng ngô, thì đến năm 2005 đã tăng lên 780 ha với sản lượng tăng hơn 338 tấn. Ngoài trồng ngô, huyện còn có 860 ha rau và 505 ha đậu các loại, góp phần đưa sản lượng lương thực (có hạt) của huyện đạt 35.443 tấn.

Ông Phan Văn Hào - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Tuy An

Phát triển hệ thống thuỷ lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện Tuy An thực hiện thành công công tác quy hoạch, xây dựng mô hình cánh đồng cho thu nhập 30 - 50 triệu đồng/ha/năm. Trong năm 2005, huyện có 6 thôn, xóm, khu vực áp dụng mô hình này. Trên cơ sở đó, Tuy An sẽ áp dụng ở các xã, thị trấn trong toàn huyện.

Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đặc biệt là mô hình cánh đồng có thu nhập cao ở Tuy An không chỉ tạo bước phát triển mang tính đột phá mà còn tạo bước chuyển biến mới về nhận thức của người dân trong sản xuất nông nghiệp. Đó là giải pháp nhằm hạn chế tình trạng sản xuất manh mún, hướng nông dân tiếp cận phương thức sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường với quy mô lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong giai đoạn tới, huyện sẽ tập trung nguồn vốn ngân sách, vốn địa phương và huy động sức dân để hoàn thiện hệ thống kênh mương, đồng thời phát huy tác dụng của hồ chứa nước Đồng Tròn nhằm phục vụ hiệu quả công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, huyện chủ trương phát triển đàn bò theo hướng sind hoá, khuyến khích nông dân đầu tư thâm canh nuôi vỗ béo bò và trồng cỏ. Nhờ đó, năm 2005, đàn bò của huyện tăng 27,5% so với năm 2000, tỷ lệ bò lai sind tăng 28,8%, góp phần nâng tỷ lệ bò lai sind của Tuy An đạt 37,9% tổng đàn. Với định hướng phát triển đúng đắn, đàn gia súc, gia cầm huyện Tuy An phát triển tương đối nhanh. Đến tháng 9-2005, toàn huyện có 31.958 con bò, 28 nghìn con heo (lợn), 1.500 con dê và 184 nghìn con gia cầm.

Bên cạnh đó, Tuy An còn có đường bờ biển dài 41,4 km với nhiều vũng, vịnh, đầm; nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và trữ lượng tương đối lớn như: tôm, cua, cá, sò huyết, rau câu,... Toàn huyện có trên 40 nghìn lao động (trong tổng số 70 nghìn dân) thuộc 6 xã ven biển. Những lợi thế trên đã góp phần đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo chương trình hành động mà tỉnh Phú Yên đã đề ra. Tuy nhiên, để đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành thuỷ sản, huyện Tuy An chủ trương khuyến khích ngư dân đầu tư tàu thuyền có công suất lớn để tăng khả năng đánh bắt xa bờ. Nhờ đó, đến tháng 9-2005, toàn huyện có 1.090 chiếc ghe gắn máy, tổng công suất 30.394 CV, trong đó có 156 tàu trên 45 CV. Một trong những loại hình khai thác mang lại hiệu quả kinh tế cao là nghề đánh bắt cá ngừ đại dương. Năm 2004, sản lượng đánh bắt của huyện đạt 8 nghìn tấn (tăng 350 tấn so với năm 2004), riêng cá ngừ đạt 1.200 tấn (chiếm 15%), góp phần đưa giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản đạt 94.135 triệu đồng (giá cố định năm 1994).

Cùng với đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản cũng được triển khai rất tích cực theo hướng phát triển bền vững gắn với bảo vệ nguồn lợi tự nhiên và môi trường sinh thái. Năm 2005, toàn huyện có 550 ha nuôi tôm, 800 lồng nuôi tôm hùm, 80 lồng nuôi cá mú và các loại thuỷ sản khác. Trong thời gian tới, Tuy An sẽ tiến hành đưa các giống mới có giá trị kinh tế cao và khả năng cải tạo môi trường vào cơ cấu đối tượng nuôi như cá rô phi đơn tính, cá mú, tôm thẻ chân trắng, vẹm, sò huyết. Đặc biệt dự án nuôi cá lồng trên biển ở An Hải dự kiến sẽ cho sản lượng 1.300 - 1.500 tấn vào năm 2008. Bên cạnh đó, việc đưa vào sử dụng cảng cá Tiên Châu sẽ mở ra cơ hội giao thương hàng hoá lớn, đảm bảo cho nghề cá phát triển ổn định, tạo đà cho những bước phát triển mới của ngành thuỷ sản huyện Tuy An trong tương lai.

Thắng lợi trên mặt trận sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp đã cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân trong huyện. Ông Phan Văn Hào - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Tuy An - khẳng định: "Huyện Tuy An sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện thành công việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đảm bảo sự phát triển bền vững". Đây sẽ là điểm tựa vững chắc để phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tạo nên những thành công mới trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Gành Đá Đĩa (huyện Tuy An)

Công nghiệp, du lịch và dịch vụ - những chuyển biến tích cực

Trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, huyện Tuy An có khả năng phát triển các ngành khai thác khoáng sản và chế biến nông - lâm - hải sản nhờ nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú gồm quặng sắt, bôxít, diatomit, ôxíttitan và tài nguyên biển giàu có, đa dạng. Bên cạnh đó, huyện còn có nhiều làng nghề nổi tiếng như: làm gốm ở thôn Quảng Đức (xã An Thạch), dệt chiếu cói ở xã An Cư, làm nước mắm ở các xã An Ninh Tây, An Hoà, An Chấn,... Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn huyện đạt 249 tỷ đồng, tăng 16,8% so với năm 2000. Điển hình cho khu vực kinh tế tư nhân có Công ty cổ phần Thiên Tân, đơn vị chuyên sản xuất chế biến hạt điều xuất khẩu, công suất 10 nghìn tấn/năm, giải quyết việc làm cho 700 - 1.000 lao động địa phương.

Cùng với đó, điểm công nghiệp Tam Giang ở phía nam thị trấn Chí Thạnh (diện tích 10 ha) đã được hình thành. Đây sẽ là điểm tập trung một số nhà máy công nghiệp và các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong huyện để dần hình thành khu vực phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sôi động tại trung tâm huyện. Trong giai đoạn 2005 - 2010, huyện sẽ nghiên cứu lập dự án xây dựng một số cụm, điểm công nghiệp khác, dần tạo nên các thị tứ, góp phần tạo nên sự cân bằng trong phát triển kinh tế của huyện.

Trong lĩnh vực dịch vụ - du lịch, năm 2005, huyện tiến hành xây dựng Trung tâm văn hoá hội nghị với diện tích 10 nghìn m2 tại thị trấn Chí Thạnh với số vốn đầu tư hơn 7 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2006. Sự ra đời của trung tâm này kết hợp với một số lợi thế khác về giao thông sẽ đưa Tuy An trở thành trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các huyện đồng bằng và miền núi của tỉnh Phú Yên, thúc đẩy các hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn ngày càng phát triển.

Không những thế, Tuy An còn là huyện giàu tiềm năng du lịch. Bãi biển Long Thuỷ là một trong những bãi biển đẹp nhất tỉnh Phú Yên; đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa nổi tiếng cả nước; Khu du lịch sinh thái Núi Thơm, Bãi Xép, Hòn Chùa,... cùng nhiều di tích lịch sử như mộ và đền thờ Lê Thành Phương, di tích chùa Đá Trắng, đài tưởng niệm vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh, di tích địa đạo Gò Thì Thùng, thành An Thổ,... đang được huyện đề xuất với tỉnh có kế hoạch đầu tư, khai thác.

Cùng với việc xúc tiến đầu tư xây dựng mới cầu An Hải, cầu Lò Gốm, kết hợp với đường Độc Lập nối dài từ thành phố Tuy Hoà xuyên qua 6 xã ven biển của huyện tạo thành tuyến giao thông huyết mạch giúp huyện có thể khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng du lịch biển lớn nhất tỉnh Phú Yên. Đặc biệt, tháng 8-2004, Chính phủ đã đồng ý cho Phú Yên triển khai dự án khu du lịch phức hợp tại xã An Trấn (huyện Tuy An) do Tập đoàn khách sạn AMARA của Hàn Quốc làm chủ dự án với số vốn đầu tư giai đoạn I là 200 triệu USD. Đây sẽ là "cú hích" quan trọng cho ngành du lịch Tuy An. Đồng chí Huỳnh Tấn Việt - Bí thư Huyện uỷ Tuy An - khẳng định: "Phát triển du lịch là hướng đi chiến lược của huyện trong tương lai. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nhất hiện nay của Tuy An là nguồn vốn. Vì thế, ngoài phát huy nội lực, huyện rất cần sự hợp sức của các cấp, các ngành trong tỉnh nhằm huy động nguồn vốn đủ mạnh cho chiến lược này".

Những thay đổi đáng tự hào trong đời sống xã hội

Những chuyển biến về kinh tế đã kéo theo nhiều thay đổi trong đời sống xã hội. Kết cấu hạ tầng không ngừng được mở rộng về quy mô và ngày càng hiện đại. Trong 5 năm 2001 - 2005, huyện đã xây dựng trên 50 km đường bê tông, nhựa, đạt 98,6% chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ huyện đề ra. Công tác chỉnh trang đô thị thu được những kết quả khả quan.

Cơ sở trường lớp từng bước được xây dựng hoàn chỉnh. Từ năm 2000 đến năm 2005, toàn huyện đã xây dựng 119 phòng học với tổng kinh phí trên 8,2 tỷ đồng, nhờ đó đã chấm dứt tình trạng học ca ba. Năm 2005, 100% xã, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và giáo dục trung học cơ sở.

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được chú trọng. Mạng lưới y tế được củng cố từ cấp huyện đến cấp xã với 100% xã, thị trấn có trạm y tế, phòng khám khu vực và y sĩ sản nhi. Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu của nhân dân được thực hiện tốt. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai chặt chẽ. Nhờ đó, trong nhiều năm liền, huyện Tuy An đã không để xảy ra các dịch bệnh lớn, góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhân dân.

Hệ thống thông tin viễn thông đảm bảo thông suốt. Năm 2005, toàn huyện có 16 điểm bưu điện văn hóa xã, 6 đại lý bưu điện, 3.761 thuê bao (đạt 2,8 máy/100 dân), tăng 2.684 máy so với năm 2000. Mạng Vinaphone, Mobilphone đã phủ sóng toàn bộ thị trấn Chí Thạnh và khoảng 35% diện tích toàn huyện.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của người dân. Năm 2005, toàn huyện có 72 thôn văn hoá (chiếm 80%), 87 cơ quan văn hoá và 28.622 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá. Huyện đã cơ bản hoàn thành chương trình xoá nhà ở tạm cho hộ nghèo chính sách, hộ nghèo dân tộc thiểu số và hộ nghèo đặc biệt khó khăn.

Dưới đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ, chính quyền địa phương, bằng bàn tay và khối óc, người dân Tuy An sẽ tạo nên những đổi thay kỳ diệu trên quê hương Tuy An giàu truyền thống cách mạng.

Đài tưởng niệm vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh (huyện Tuy An)

Triển khai mô hình cánh đồng cho thu nhập 30 - 50 triệu đồng/ha/năm, huyện Tuy An đã có 6 địa phương áp dụng mô hình này, bao gồm:

- Mỹ Long (xã An Dân): diện tích 30 ha, chuyên canh mía cao sản.

- Soi Giữa (xã An Định): diện tích 15 ha, mô hình xen canh lúa, ngô, lạc, đậu, bông.

- Đồng Lớn (xã An Hòa): diện tích 19 ha, sản xuất luân canh hành - rau - hành.

- Đồng Đụn (xã An Chấn): diện tích 14 ha, sản xuất luân canh lúa đông xuân - dưa các loại - lúa hè thu.

- Xứ đồng bà Chưa (xã An Nghiệp): diện tích 40 ha, sản xuất theo phương thức lúa xen canh đậu - lúa.

- Xứ đồng Hội Phú (xã An Ninh Tây): diện tích 5 ha, sản xuất luân canh ngô - bông - lúa.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên đã phê duyệt quy hoạch xây dựng nhà máy lắp ráp ôtô công suất 15 nghìn chiếc/năm tại xã An Mỹ, huyện Tuy An. Ngày 18-9-2005 lễ động thổ xây dựng nhà máy đã được tiến hành. Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ thu hút hàng nghìn lao động của huyện Tuy An.

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010

1) Hoàn chỉnh chi tiết xây dựng thị trấn Chí Thạnh trở thành trung tâm chính trị, kinh tế - văn hoá, đồng thời mở rộng khu dân cư ở xung quanh thị trấn.

2) Quy hoạch xây dựng các trung tâm thị tứ ở phía nam, phía đông - bắc và phía tây của huyện, các khu du lịch thương mại, các khu dân cư,... nhằm tạo ra cơ chế thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

3) Tập trung khai thác mọi nguồn lực của địa phương; đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, tạo hành lang thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn và các khu vực trọng điểm của huyện.

4) Tăng cường đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng.

5) Đa dạng hoá các hình thức tạo vốn, huy động vốn, coi trọng việc nuôi dưỡng phát triển, mở rộng các nguồn thu ngân sách trên địa bàn huyện; sẵn sàng liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp có uy tín trong và ngoài nước để phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của huyện.

Tuy An - đất địa linh, đất anh hùng

Năm 1992, tại địa phận Núi Một, thôn Trung Lương (xã An Nghiệp, huyện Tuy An), các nhà khảo cổ học đã phát hiện bộ đàn đá có niên đại của văn hoá Sa Huỳnh. Đó là bằng chứng sinh động về sự xuất hiện rất sớm của con người trên mảnh đất Tuy An. Lịch sử lâu đời cùng với sự hùng vĩ của "dáng sông, thế núi" đã tạo nên diện mạo vùng đất địa linh, nơi sinh dưỡng nhiều tên tuổi kiệt xuất như: Lê Thành Phương, Trần Phú,...

Theo sử sách xưa, năm 1602, Tham tướng dinh Trấn Biên là Lương Văn Chánh cho dời đại bản doanh từ thành Hồ ra làng Hội Phú (tức xã An Ninh, huyện Tuy An ngày nay). Ông đã cho xây dựng dinh Trấn Biên lấy Hội Phú là trung tâm tỉnh lỵ Phú Yên lúc bấy giờ. Tuy nhiên, phải đến năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), tên gọi Tuy An mới xuất hiện khi vua Minh Mạng chính thức đổi tên phủ Phú Yên thành phủ Tuy An. Từ tên gọi dinh Trấn Biên đến tên mới phủ Tuy An, mảnh đất này luôn giữ vai trò là thủ phủ của tỉnh Phú Yên.

Người Tuy An cần cù chịu khó và cũng rất kiên cường trước kẻ thù xâm lược. Năm 1966, địa đạo Gò Thì Thùng (xã An Xuân) là nơi quân và dân ta bẻ gãy một trong 5 mũi tấn công của đế quốc Mỹ vào căn cứ cách mạng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân Tuy An đã đóng góp sức người, sức của, không lùi bước trước "mưa bom, bão đạn" của quân thù. Nhiều người con Tuy An đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. 266 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 3.158 liệt sĩ, 585 thương bệnh binh và 172 gia đình có công với cách mạng là minh chứng cho tinh thần kiên cường và anh dũng của nhân dân Tuy An. Đặc biệt, trong vụ thảm sát dã man của quân thù ngày 7-9-1954, 79 người dân Ngân Sơn - Chí Thạnh đã hy sinh anh dũng thể hiện tinh thần quật cường, bất khuất của nhân dân Tuy An. Tinh thần đó mãi là biểu tượng, niềm tự hào của nhân dân Tuy An nói riêng, người dân Phú Yên và cả nước nói chung.

Với nhiều thành tích lớn lao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, năm 1995, huyện Tuy An đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

Giá trị sản xuất thuỷ sản

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

2001

2005

Khai thác

52.632

64.350

Nuôi trồng

35.214

29.785

Tổng cộng

87.846

94.135

Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Tuy An

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau